vanban.org

Bản án 21/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 05/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị Đ phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2020/HS-ST
Ngày: 05/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT-TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đại Nghĩa

Ông Nguyễn Thành Lam

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2020, tại Hội trường A – Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2020/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2020/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Thị Đ, sinh ngày: 01/01/1992, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Khu phố H, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phan Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (đã chết); Bị cáo sống chung như vợ chồng và không đăng ký kết hôn với: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1980 và Võ Mạnh L, sinh năm: 1991 (đã chết); Bị cáo là con thứ 03 trong gia đình và có 04 con; Con lớn nhất sinh năm: 2008 và con nhỏ nhất sinh năm: 2016.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: 13/02/2015, Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 09/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện Thống Nhất từ ngày 19/01/2020. (Có mặt)

* Bị hại: Chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm: 1983. (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp V, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 19/01/2020, Phan Thị Đ cùng con gái là cháu Võ Huỳnh A , sinh ngày: 15/8/2016 đi xe buýt từ xã Phú Cường, Định Quán về thành phố Biên Hòa.

Đến khoảng 8 giờ 30 cùng ngày, khi đến chợ Võ Dõng thuộc ấp Võ Dõng 3, xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, Đ xuống xe và bế cháu Huỳnh A đi vào chợ Võ Dõng tìm kiếm người dân để sơ hở tài sản thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Khi vào chợ, Đ phát hiện chị Nguyễn Thị Kim H , sinh năm: 1983 (trú tại ấp V , xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai) có để 01 ví da màu đỏ trong túi trái áo khoác màu xanh, lộ một phần ví ra ngoài. Đ đi lại gần, lợi dụng lúc chị H đang đứng mua đồ mất cảnh giác, Đ bế cháu Huỳnh A bên hông phải, đi từ phía sau áp sát phía bên trái của chị H, dùng tay trái giữ cháu Huỳnh A. Sau đó, dùng tay phải móc chiếc ví da màu đỏ (bên trong chứa số tiền 3.541.000 đồng). Thực hiện xong hành vi trộm cắp, Đ đi ra hướng Quốc lộ 20 để bỏ trốn. Khi đi được khoảng 10m thì chị H và người dân truy hô, biết hành vi trộm cắp của mình đã bị bại lộ, Đ đã vứt chiếc ví vừa trộm cắp được xuống đất, phía trước một sạp bán đồ nhựa. Chị H cùng một số người dân bắt tang và thu giữ tang vật là: 01 chiếc ví da màu đỏ bên trong có số tiền 3.541.000 đồng (Ba triệu năm trăm bốn mươi mốt ngàn đồng). (Bút lục số: 01 - 11)

Quá trình điều tra , bị can Phan Thị Đ đa khai nhâ ̣̃

n toàn bô ̣ hành vi pha ̣m tô ̣i như đa nêu trên. (Bút lục số 01 -11)̃

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 248/KL-HDĐG ngày 10/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thống Nhất kết luận: 01 ví da màu đỏ, không nhãn hiệu, kích thước 12x8cm, đa qua sữ

̉ du ̣ng có giá tri ̣ là 20.000 đồng (Hai mươi ngàn đồng). (Bút lục 21 - 22)

Tại cáo trạng số: 31/CT.VKS-HS ngày 31 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phan Thị Đ từ 06 tháng đến 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

* Vật chứng của vụ án:

Một chiếc ví da màu đỏ bên trong có số tiền 3.541.000 đồng (Ba triệu năm trăm bốn mươi mốt ngàn đồng) là tài sản của chị Nguyễn Thị Kim H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã trao trả cho chị Nguyễn Thị Kim H. (Bút lục số 54)

* Về trách nhiệm dân sự:

Chị Nguyễn Thị Kim H đã nhận ví da và số tiền 3.541.000 đồng (Ba triệu năm trăm bốn mươi mốt ngàn đồng) và có đơn bãi nại về dân sự cho bị cáo Phan Thị Đ. (Bút lục số 55)

Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thị Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo không có ý kiến về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị đối với bị cáo và không có ý kiến, tranh luận gì khác.

* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thống Nhất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, xét lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai người bị hại và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận:

Vào sáng ngày 19/01/2020, tại ấp Võ Dõng 3, xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, Phan Thị Đ đã có hành vi lén lút, lấy trộm chiếc ví da màu đỏ để bên trong túi áo khoác của chị Nguyễn Thị Kim H, sinh năm: 1983 (trú tại: Ấp Võ Dõng 1, xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai). Tài sản trộm cắp được gồm có: 01 chiếc ví da màu đỏ có giá trị là 20.000 đồng và bên trong có số tiền 3.541.000 đồng (Ba triệu năm trăm bốn mươi mốt ngàn đồng) thì bị bắt quả tang và xử lý.

Hành vi của bị cáo đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người bị hại, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tài sản của người khác trái pháp luật, bị cáo Đ khi thực hiện hành vi phạm tội thì có khả năng lao động nhưng không tu chí làm ăn lương thiện nuôi sống bản thân mà đã lợi dụng sơ hở của người khác để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Vì vậy, cần có mức án nghiêm tương xứng với hành vi của bị cáo, nhằm mục đích răn đe giáo dục và phòng ngừa chung là cần thiết.

Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Tình tiết tăng nặng: Không có.

- Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ: Ngày 13/02/2015, Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 09/HSST, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo không có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Tài sản đã thu hồi và trả cho người bị hại, bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên được xem xét khi lượng hình cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:

Chị Nguyễn Thị Kim H đã nhận ví da và số tiền 3.541.000 đồng (Ba triệu năm trăm bốn mươi mốt ngàn đồng) và có đơn bãi nại về dân sự cho bị cáo Phan Thị Đ.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuyên bố: Bị cáo Phan Thị Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.Về hình phạt:

Xử phạt: Bị cáo Phan Thị Đ 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/01/2020.

2. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ