vanban.org

Bản án 21/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương Tuyên án 17/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 11 (mười một) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, phát mại nộp vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô BKS 99H4-02xx, c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tuấn A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH MIỆN
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2020/HS-ST
Ngày: 17-3-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Phạm Đức Chính.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đào Đình Phúc

Ông Nguyễn Ngọc Nghiêm

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Quang Khuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diên - Kiểm sát viên.

Ngày 17/3/2020 tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2020/TLST-HS ngày 02/3/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXXST-HS ngày 05/3/2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 12/10/1983, tại Hải Dương; nơi ĐKHKTT: Số 49/246 đường Đ, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; chỗ ở: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị L; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Quyết định Xử phạt vi phạm hành chính số 08/QĐ-XPHC ngày 27/12/2013, Công an huyện Thanh Miện phạt 1.000.000 đồng về hành vi Đánh bạc, thi hành xong ngày 03/01/2014; tại Bản án hình sự sơ thẩm số 18/2016/HSST ngày 03/6/2016, Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 11 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05/12/2016, ngày 27/9/2016 nộp 200.000 đồng án phí (các án tích, xử phạt vi phạm hành chính đã được xoá); bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương trong vụ án khác của Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Quốc V, sinh năm 1989; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 05/12/2019, Nguyễn Tuấn A điều khiển xe mô tô BKS 99H4-02xx từ nhà ở Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương đi vào thôn B, xã L, huyện T rồi sang thôn T, xã L, huyện T nhằm mục đích tìm sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi đến thôn T, xã L, huyện T, Tuấn A thấy 01 xe ô tô tải nhãn hiệu KIA, màu xanh, có thùng kín màu trắng, BKS 34C-065.xx đang đỗ ở đường, không có người trông coi, không khóa cửa xe. Quan sát qua kính chắn gió xe ô tô thấy 02 điện thoại di động để ở mặt táp lô trong ca bin, Tuấn A dựng xe mô tô ở phía sau ô tô, đi bộ lên cửa bên phụ xe ô tô, mở cửa xe lấy 01 điện thoại di động vỏ màu đen nhãn hiệu Samsung Galaxy A8+, lắp sim số 0847.938.333 và 01 điện thoại di động vỏ màu xanh nhãn hiệu OPPO F7 lắp sim số 0986.005.523 cất vào túi áo khoác rồi điều khiển xe mô tô BKS 99H4-02xx đi đến thị trấn K, huyện B, tỉnh Hải Dương, tháo 2 sim lắp trong 2 điện thoại trên vứt đi. Sau đó, Tuấn A bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang triệu tập làm việc vì liên quan đến vụ trộm cắp tài sản khác. Quá trình làm việc, Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và tự nguyện giao nộp 02 điện thoại di động. Ngày 20/12/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang đã chuyển tài liệu, vật chứng có liên quan cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Miện giải quyết theo thẩm quyền. Sau khi bị mất tài sản, anh Nguyễn Quốc V đã trình báo cơ quan điều tra.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 25/KL-HĐĐG ngày 26/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Thanh Miện kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A8+ đã qua sử dụng trị giá 6.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F7 đã qua sử dụng trị giá 5.000.000 đồng

Tại bản Cáo trạng số 22/VKS-HS ngày 28/02/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Tuấn A ra trước Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện để xét xử về tội Trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tuấn A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội Trộm cắp tài sản; về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án; về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 xe mô tô BKS 99H4-02xx của bị cáo; về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật TTHS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Miện, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về chứng cứ xác định bị cáo có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà và trong quá trình điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 05/12/2019, Nguyễn Tuấn A điều khiển xe mô tô BKS 99H4-02xx từ nhà đến thôn T, xã L, huyện T, tỉnh Hải Dương với mục đích trộm cắp tài sản. Quan sát thấy xe ô tô tải nhãn hiệu KIA, BKS 34C-065.xx của anh Nguyễn Quốc V đang đỗ ở đường, không có người trông coi, không khóa cửa xe, Nguyễn Tuấn A mở cửa xe ô tô bên ghế phụ rồi chiếm đoạt 01 điện thoại di động vỏ màu đen nhãn hiệu Samsung Galaxy A8+, trị giá 6.000.000 đồng và 01 điện thoại di động vỏ màu xanh nhãn hiệu OPPO F7, trị giá 5.000.000 đồng của anh Nguyễn Quốc V, tổng giá trị tài sản là 11.000.000 đồng. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc trộm cắp tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người khác là trái pháp luật, nhưng vì mục đích tư lợi, bị cáo vẫn cố ý thực hiện, nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Trộm cắp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo bị phát hiện về hành vi phạm tội khác, nhưng đã tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình mà chưa bị phát hiện; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử lý hành chính, và kết án nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện mình, mà khi có cơ hội lại phạm tội. Ngoài hành vi phạm tội này, bị cáo còn bị Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương kết án 26 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 12/2020/HS-ST ngày 06/3/2020. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng với bị cáo mức hình phạt nghiêm để giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phục vụ công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định và không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại gì khác, nên Hội đồng xét xử không phải giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại 01 điện thoại di động vỏ màu đen nhãn hiệu Samsung Galaxy A8+ và 01 điện thoại di động vỏ màu xanh nhãn hiệu OPPO F7 cho bị hại. Đối với 02 sim có số điện thoại 0847.938.333 và 0986.005.523 lắp trong 02 điện thoại nêu trên, bị cáo đã vứt đi, bị hại không yêu cầu bồi thường, nên không phải giải quyết. Đối với 01 xe mô tô BKS 99H4-02xx bị cáo mua hợp pháp, là phương tiện dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu, phát mại nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tuấn A bị kết án, nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 11 (mười một) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, phát mại nộp vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô BKS 99H4-02xx, có Chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị T, sinh năm 1966 ở thôn A, xã P, huyện T, tỉnh Bắc Ninh (vật chứng có đặc điểm ghi tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/3/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Miện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Miện).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Tuấn A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ