- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình L - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội: Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2020/HS-ST Ngày 20-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quy
Ông Ngô Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Quốc Cường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2020/QĐXXST-HS ngày 06/5/2020 đối với bị cáo: Nguyễn Đình L - sinh năm 1978. Giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú, nơi cư trú: thôn Đ, xã ĐC, huyện KT, tỉnh HD; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Đình B - sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị Th - sinh năm 1959; có vợ: Trương Thị V – sinh năm 1979, có 1 con sinh năm 2002, Tiền án, tiền sự: Không. Hiện bị cáo đang bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương từ ngày 20/12/2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Về nhân thân:
- Tại bản án số 11 ngày 20/6/2000, Nguyễn Đình L bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Hà - Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản khoảng 700.000 đồng).
- Tại bản án số 28 ngày 11/9/2002, Nguyễn Đình L bị Tòa án nhân dân huyện Kim Thành xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản trị giá khoảng 500.000 đồng).
- Bản án số 17/HSST ngày 17/6/2004, Nguyễn Đình L bị Tòa án nhân dân huyện Kim Thành xử phạt 30 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 650.000 đồng).
- Tại bản án số 95/2008/HSST ngày 25/12/2008, Nguyễn Đình L bị Toà án nhân dân huyện An Dương xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 08/6/2011, L chấp hành xong bản án.
- Tại bản án số 04/2012/HSST ngày 09/01/2012, Nguyễn Đình L bị Toà án nhân dân huyện An Dương xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 28/9/2014, L chấp hành xong bản án.
- Ngày 20/12/2013 bị Công an huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 30/12/2013 L đã chấp hành xong quyết định.
* Người bị hại:
- Anh Nguyễn Văn Ch – sinh năm 1987 và chị Lương Thanh B – sinh năm 1987
Đều trú tại: KC – TK – KT – HD
- Anh Nguyễn Ngọc Th – sinh năm 1993
Trú tại: TĐ – K – KT – HD
- Anh Nguyễn Trọng H – sinh năm 1986
Trú tại: ĐT– Đ – KT – HD
- Chị Lê Thị Thanh Ph – sinh năm 1990 và anh Vũ Minh Kh– sinh năm 1987
Đều trú tại: VT – Đ – KT – HD
Đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Lưu Nguyên Ng – sinh năm 1990
Trú tại: HL - HP – AD – HP
- Anh Nguyễn Văn Tr – sinh năm 1989
Trú tại: ĐN – HP – AD-HP
Đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Lương Tất B – sinh năm 1985
Trú tại: Đội 9 – LS – GV – NB
- Ông Nguyễn Đình B – sinh năm 1958
Trú tại: Đ – ĐC – Kim Thành – Hải Dương
- Ông Nguyễn Thanh Hải – sinh năm 1970
Trú tại: KC – TK – KT – HD
- Ông Nguyễn Văn T– sinh năm 1969
Trú tại: KC – TK – KT – HD.
Đều vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 04 giờ 15 phút ngày 17/12/2019, Nguyễn Đình L điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision, đeo biển số 34N2-6432 đi đến khu vực xã TK-KT-HD thì thấy nhà anh Nguyễn Văn Ch - sinh năm 1987 ở thôn KC - TK đang bật điện sáng. L dựng xe sát tường bao nhà anh Ch rồi đứng lên yên xe, trèo qua bờ tường bao vào sân, đi qua cửa chính đang mở vào trong nhà anh Ch mục đích trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền ăn tiêu. Khi vào trong phòng khách, L nhìn thấy chiếc điện thoại di động Samsung J7 Pro của anh Ch đang cắm sạc pin để trên tủ ti vi, L dùng tay rút chiếc điện thoại ra bỏ vào túi quần phía sau bên phải đang mặc. Lúc này, L nhìn thấy chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Olympia của anh Ch để trên mặt bàn thờ, L tiếp tục lấy chiếc đồng hồ cho vào túi áo khoác bên trái rồi đi lên tầng 2 vào trong phòng ngủ gần cầu thang thì nhìn thấy chiếc điện thoại di động Samsung A6 của anh Ch đang cắm sạc pin để trên mi cửa sổ và chiếc điện thoại Oppo F9 của anh Ch để ở phía đầu giường. L rút chiếc điện thoại Samsung A6 ra khỏi sạc pin cho vào túi áo khoác bên trái và lấy chiếc điện thoại Oppo F9 cho vào túi quần bên trái. Sau đó, L đi xuống tầng 1, lúc này anh Ch đang dọn dẹp ở phía ngoài đi vào trong nhà lấy điện thoại để gọi điện. Do sợ bị phát hiện nên L lẩn trốn ở gầm cầu thang. Anh Ch kiểm tra phát hiện thấy chiếc điện thoại cùng chiếc đồng hồ để trong phòng khách và 02 chiếc điện thoại để trong phòng ngủ đều bị mất nên nhờ ông Nguyễn Thanh H - sinh năm 1970 và ông Nguyễn Văn T - sinh năm 1969 đều là người cùng thôn đi tập thể dục qua tìm kiếm đối tượng trộm cắp thì phát hiện thấy L đang ẩn nấp ở gầm cầu thang. Ông H túm áo L kéo ra, L thừa nhận việc đã trộm cắp tài sản của anh Ch. Do sợ L bỏ chạy nên anh Ch đã lấy chiếc vỏ chai rượu bằng sứ đập vào trán L làm L bất tỉnh. Sau đó, anh Ch gọi điện báo công an xã TK đến lập biên bản vụ việc, thu giữ trong túi quần và túi áo của L đang mặc 01 chiếc điện thoại di động Samsung J7 Pro; 01 chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Olympia; 01 chiếc điện thoại di động Samsung A6; 01 chiếc điện thoại di động Oppo F9; 01 chiếc ví da gấp màu đen, bên trong có 01 giấy phép lái xe, 01 giấy chứng minh nhân dân đều mang tên Nguyễn Đình L; 02 giấy phép lái xe, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy đăng ký xe mô tô, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô, 01 thẻ ATM và 01 thẻ bảo hiểm y tế đều mang tên Nguyễn Ngọc Th - sinh năm 1993, trú tại: Kim Tân - Kim Thành. Ngoài ra công an xã TK còn thu giữ 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Vision, đeo biển số 34N2-6432 do L dựng ở ngoài đường.
Tại bản Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện KT ngày 17/12/2019 kết luận: chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Pro trị giá 2.500.000 đồng; chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Olympia trị giá 1.000.000 đồng; chiếc điện thoại di động Samsung A6 trị giá 3.500.000 đồng; chiếc điện thoại di động Oppo F9 trị giá 3.000.000 đồng.
Hồi 16 giờ 20 phút ngày 18/12/2019, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đình L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kim Thành thu giữ 01 chiếc biển kiểm soát xe mô tô 73E1-201.09
Quá trình điều tra còn xác định rõ:
Khoảng 16 giờ ngày 09/12/2019, Nguyễn Đình L điều khiển xe máy biển số 34B3-726.59 (do L mượn của bố đẻ là ông Nguyễn Đình B) đi lang thang mục đích xem ai có tài sản để sơ hở thì trộm cắp đem bán lấy tiền ăn tiêu . Khi đi đến khu vực cổng nhà anh Nguyễn Ngọc Th - sinh năm 1993 ở thôn TĐ-KT-KT, L phát hiện thấy nhà anh Th không khóa cổng, cửa nhà chỉ khép hờ, xung quanh không có người. L dựng xe ở ngoài đường rồi đi bộ đến mở cửa vào trong nhà anh Th, nhìn thấy anh Th đang nằm ngủ quay mặt vào tường, trên đầu giường cạnh chỗ anh Th nằm ngủ, anh Th để chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A70 và một chiếc ví da màu đen kích thước 10 x 20cm, bên trong ví có có 3.000.000 đồng tiền mặt, 02 giấy phép lái xe, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy đăng ký xe mô tô, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe mô tô, 01 thẻ ATM và 01 thẻ bảo hiểm y tế đều mang tên anh Th. L lấy chiếc ví da và chiếc điện thoại nêu trên của anh Th cho vào trong túi quần đang mặc rồi đi ra ngoài, điều khiển xe máy đến khu vực cầu Phao thuộc xã KL-KT thì bỏ chiếc ví vừa trộm cắp được ra kiểm tra. L giữ lại tiền và các giấy tờ trong ví còn chiếc ví L vứt xuống rìa đường. Sau đó, L điều khiển xe máy đi đến cửa hàng mua bán điện thoại của anh Lưu Nguyên Ng - sinh năm 1990 ở HP-AD-HP bán chiếc điện thoại Samsung A70 vừa trộm cắp được cho anh Ng với giá 1.500.000 đồng.
Tại bản Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện KT ngày 30/12/2019 kết luận: chiếc điện thoại di động Samsung A70 trị giá 8.360.000 đồng; chiếc ví da màu đen, kích thước 10 x 20cm trị giá 123.000 đồng.
Khoảng 09 giờ ngày 11/12/2019, Nguyễn Đình L điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Vision, đeo biển số 34N2-6432 đến thôn ĐT – Đ –KT để xem lễ hội chùa. Đến khoảng 09 giờ 10 phút cùng ngày, khi đi qua khu vực ngã ba thôn ĐT, L phát hiện thấy nhà anh Nguyễn Trọng H - sinh năm 1986 đi vắng không có người ở nhà, cổng và cửa chính nhà anh H đều khóa nhưng cửa bếp bên cạnh nhà chỉ cài then ngoài không khóa, L nảy sinh ý định vào nhà anh H trộm cắp tài sản. L dựng xe ngoài đường, trèo qua tường bao rồi đi đến mở cửa vào trong bếp nhà anh H. Thấy nhà bếp có lối đi thông với gian nhà trên nên L đi vào trong nhà lục soát tài sản. L phát hiện thấy chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu DELL loại VOSTRO 1014 của anh H để trong phòng ngủ tầng 2, L liền lấy đem xuống tầng 1. Lúc này, L nghe thấy tiếng xe máy cùng tiếng anh H đi lễ hội về mở cổng. L đem giấu chiếc máy tính xách tay vào gầm ghế ở phòng khách rồi chạy lên tầng 2 ẩn nấp. Anh H đi qua lối cửa bếp đang khép hờ vào phòng ngủ ở tầng một, không biết L đang ẩn nấp trong nhà, anh H bỏ chiếc điện thoại di động Samsung S10 Plus ra cắm sạc pin để trên giường rồi mở cửa chính đi ra ngoài mua đồ ăn. Khi đi, anh H không khóa cổng. Đợi anh H ra khỏi nhà, L đi xuống tầng một, rút chiếc điện thoại di động Samsung S10 Plus anh H vừa sạc pin ra cất giấu vào túi quần đang mặc. Sau đó, L đi xuống nhà bếp, lấy chiếc ba lô đang để trên bàn học, bỏ sách vở bên trong ra và lấy chiếc máy tính xách tay nêu trên cho vào trong chiếc ba lô đem để ở cửa bếp. L đi bộ ra ngoài đường, điều khiển chiếc xe máy đang dựng ở đường lúc trước vào cửa bếp nhà anh H rồi lấy chiếc ba lô đựng chiếc máy tính xách tay đi đến cửa hàng mua bán điện thoại của anh Lưu Nguyên Ng - sinh năm 1990 ở xã HP-AD-HP. L đem bán chiếc điện thoại đi động vừa trộm cắp được cho anh Ng với giá 6.000.000 đồng, bán cho anh Nguyễn Văn Tr – sinh năm 1989, trú tại: ĐN-HP-AD-HP được 200.000 đồng. Trên đường về, L vứt chiếc ba lô xuống rìa đường.
Tại bản Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện KT ngày 30/12/2019 kết luận: chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu nhãn hiệu DELL loại VOSTRO 1014 trị giá 2.800.000 đồng; chiếc điện thoại di động Samsung S10 Plus trị giá 21.660.000 đồng.
Chiều ngày 11/12/2019, Nguyễn Đình L điều khiển xe máy Honda Vision, đeo biển số 34N2-6432 đi lang thang ở khu vực xã Đ-KT mục đích xem nhà ai có tài sản để sơ hở thì trộm cắp. Khoảng 14 giờ cùng ngày, khi đi qua nhà chị Lê Thị Thanh Ph - sinh năm 1990 ở thôn VT-Đ, L nhìn thấy nhà chị Ph mở cổng, chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA loại Novo, biển số 15B1-352.83 của vợ chồng chị Phú dựng ở sân, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa điện. L đi xe thẳng vào trong sân nhà chị Ph xem có ai trông giữ chiếc xe máy trên không để trộm cắp. Lúc này, cụ Lưu Thị M - sinh năm 1939 là bà của chị Ph đi từ phía sau nhà chị Ph ra sân. Cụ M hỏi L: Có phải đi xem đất không?, L trả lời: Cháu đang đi xem đất đây. Sau đó, L điều khiển xe máy ra ngoài đường, đi đến cửa hàng tạp hóa của bà Nguyễn Thị L - sinh năm 1969 ở gần đó gửi xe, rồi L đi bộ quay lại đến vị trí đang dựng chiếc xe máy YAMAHA loại Novo, biển số 15B1-352.83 trong sân nhà chị Ph quan sát thấy không có người trông giữ. L ngồi lên chiếc xe máy trên, cho xe nổ máy đi đến cửa hàng sửa chữa xe của anh Vũ Văn Th - sinh năm 1986 ở KC-TK-KT gửi chiếc xe ở đó và nhờ anh Th chở L đến cửa hàng tạp hóa của bà L để lấy chiếc xe máy Honda Vision đem đến quán của anh Th bảo dưỡng. Sau khi lấy được xe đem về quán của anh Th, L điều khiển xe máy vừa trộm cắp được về nhà mở cốp xe kiểm tra thấy bên trong có giấy đăng ký và giấy bảo hiểm của xe. Sáng ngày 12/12/2019, L điều khiển chiếc xe máy YAMAHA loại Novo, biển số 15B1-352.83 đến nhà em rể là anh Lương Tất B - sinh năm 1985 ở Đội 9, xã LS-GV-NB chơi. L không nói cho anh B việc L đã trộm cắp chiếc xe và bảo cho anh B chiếc xe máy này nhưng anh B không lấy. Hai ngày sau, L để lại chiếc xe máy trên cùng giấy tờ của xe tại nhà anh B rồi đi xe khách về nhà
Tại bản Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện KT ngày 31/12/2019 kết luận: chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Nouvo, biển số 15B1-352.83 trị giá 8.600.000 đồng
Quá trình điều tra, bị cáo L khai nhận về hành vi như nêu trên.
Tại bản cáo trạng số: 20/CT-VKS ngày 26/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện KT, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Đình L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L từ 39 tháng đến 42 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 20/12/2019. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết. Về các biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47; Điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu cho tiêu hủy 01 biển số 34N2-6432; Trả lại bị cáo Nguyễn Đình L: 01 ví da gấp màu đen, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe của bị cáo Nguyễn Đình L
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Đình L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo L khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Nguyễn Đình L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, ngày 09/12/2019, tại thôn TĐ-KT-KT-HD, Nguyễn Đình L lấy của anh Nguyễn Ngọc Th số tiền 3.000.000 đồng, 01 chiếc điện thoại di động Samsung A70 trị giá 8.360.000 đồng, 01 chiếc ví da trị giá 123.000 đồng cùng một số giấy tờ cá nhân; ngày 11/12/2019 tại xã Đ-KT, Nguyễn Đình L lấy của anh Nguyễn Trọng H 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu DELL loại VOSTRO 1014 trị giá 2.800.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động Samsung S10 Plus trị giá 21.660.000 đồng; lấy của vợ chồng chị Lê Thị Thanh Ph 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại xe Nouvo biển số 15B1-352.83 trị giá 8.600.000 đồng; ngày 17/12/2019, tại thôn KC-TK-KT, Nguyễn Đình L lấy của anh Nguyễn Văn Ch 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Pro trị giá 2.500.000 đồng; 01 chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Olympia trị giá 1.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động Samsung A6 trị giá 3.500.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động Oppo F9 trị giá 3.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản L chiếm đoạt là 54.543.000 đồng.
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện KT, tỉnh HD truy tố bị cáo Nguyễn Đình L về tội phạm trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, làm mất trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo sợ mất tài sản trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người khác, lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để lấy tiền ăn tiêu. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L thực hiện hành vi trộm cắp 04 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tự khai báo hành vi phạm tội của mình vào các ngày 09 và 11 tháng 12 năm 2019 khi chưa bị phát hiện, người bị hại là anh Nguyễn Văn Ch và chị Lương Thanh B có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản. Bị cáo đã được đương nhiên xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng mà lại tiếp tục phạm tội.
Xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Nguyễn Văn Ch, chị Lương Thanh B, anh Nguyễn Ngọc Th, anh Nguyễn Trọng H, chị Lê Thị Thanh Ph và anh Vũ Minh Kh đã nhận lại toàn bộ tài sản và đều không yêu cầu L phải bồi thường gì. Đối với chiếc ví da cùng số tiền 3.000.000 đồng không thu hồi được anh Th cho L và không yêu cầu L phải hoàn trả lại anh số tài sản trên. Chiếc ba lô không thu hồi được anh Hùng cho L và không yêu cầu L phải bồi thường.
Trong vụ án này, L đã bán 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung A70 được 1.500.000 đồng, 01 điện thoại sam sung S10 Plus được 6.000.000 đồng cho anh Lưu Nguyên Ng, bán máy tính xách tay cho anh Nguyễn Văn Tr được 200.000 đồng. Anh Ng, anh Tr không biết đó là tài sản do L phạm tội mà có, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện KT không đặt ra việc xử lý đối với anh Ng, anh Tr là phù hợp. Anh Ng cho L số tiền 7.500.000 đồng, anh Tr cho L số tiền 200.000 đồng và không yêu cầu L phải hoàn trả lại số tiền trên.
Đối với hành vi của anh Nguyễn Văn Ch dùng vỏ chai rượu bằng sứ đánh Nguyễn Đình L gây tỷ lệ tổn thương cơ thể 3%, L có đơn đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Ch, ngày 06/3/2020 Công an huyện KT đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh Ch và tiêu hủy chiếc vỏ chai trên.
Đối với chiếc xe máy Honda Vision L dùng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản là do L trộm cắp được trên địa bàn huyện AD-HP, L đã tháo biển số 73E1 - 201.09 của chiếc xe ra và nắp chiếc biển số 34N2-6432 do L nhặt được vào ngày 13/01/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện KT đã bàn giao chiếc xe máy Honda Vision và chiếc biển số 73E1 - 201.09 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện An Dương giải quyết theo thẩm quyền.
Đối với biển số xe 34N2-6432 xác định là biển số xe của anh Lương Văn K, sau đó anh Kiên đã bán xe cho người khác đến nay không xác định được bán cho ai, là tài sản không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy. Đối với 01 ví da gấp màu đen, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe của Nguyễn Đình L không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo bị kết luận phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội: Trộm cắp tài sản.
2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L 39 (ba mươi chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam 20/12/2019.
3. Về các biện pháp tư pháp: Tịch thu cho tiêu hủy: 01 biển số 34N2-6432
Trả lại bị cáo Nguyễn Đình L: 01 ví da gấp màu đen, 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 giấy phép lái xe của Nguyễn Đình L.
(Đặc điểm vật chứng theo như biên giao giao nhận ngày 27/3/2020 giữa Công an huyện KT và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện KT)
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Đình L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ tuyên án sơ thẩm; người bị hại có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dương; - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương; - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương; - Lưu: Hồ sơ vụ án, hồ sơ thi hành án hình sự, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |