vanban.org

Bản án 21/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Trà Vinh Tuyên án 15/07/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 15/07/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo

Nguyễn Văn N. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2020/HS-ST ngày 11/5/2020 của Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”. - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 21/2020/HS-PT

Ngày: 15/07/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Minh Tự Các Thẩm phán: Ông Ngô Đê Bà Ngô Thị Kim Châu - Thư ký phiên tòa: Ông Phan Vũ Lăng, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh. -Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh - Kiểm sát viên. Ngày 15 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 22/2020/HSPT, ngày 15/6/2020 đối với bị cáo Nguyễn Văn N. Do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2020/HS-ST ngày 11/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh. Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn N, sinh năm 1988, tại tỉnh T. Nơi cư trú: Khóm I, thị trấn C, huyện T, tỉnh T; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1957(đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1960; có vợ tên Trương Thị Ngọc B, sinh năm 1988 (đã ly hôn); con có 01 người sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 19/12/2019 đến ngày 09/01/2020 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa). Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Do không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không có kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa phúc thẩm. NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 17 giờ ngày 24/8/2019, anh Bùi Linh K điều khiển xe mô tô Excerter màu xanh, biển số 84H1-378.72, chở chị Trương Thị Ngọc B chạy từ UBND xã P, huyện T, tỉnh T đi về hướng thành phố T. Lúc này, bị cáo Nguyễn Văn N phát hiện và nổi cơn ghen tuông (vì chị B là vợ của bị cáo), nên bị cáo điều khiển xe mô tô loại Sirius màu trắng, biển số 84C-113.72 chạy đuổi theo anh K, khi chạy xe đến vòng xoay ngã năm trước nhà văn hóa thể thao huyện T thuộc khóm I, thị trấn T, huyện T thì bị cáo N đuổi kịp anh K và ra hiệu bằng tay kêu anh K tấp xe vào lề nói chuyện. Khi anh K tấp xe vào lề và dừng xe lại thì bị cáo chòm người tới dùng tay phải đánh anh K một cái trúng vào kính mũ bảo hiểm anh K đang đội và làm vở kính mũ bảo hiểm làm cho anh K bị mất thăng bằng ngã khỏi xe về phía vĩa hè xe của anh K cũng bị ngã theo hướng anh K và đè lên chân của anh K, còn chị B nhảy xuống xe nên không bị té ngã. Chị B đi qua trước mặt bị cáo N dùng tay đẩy bị cáo ra và dùng giày đang mang đánh vào người bị cáo với mục đích không cho bị cáo đánh anh K. Sau đó, anh K đứng dậy và dựng xe lên đậu cặp lề đường bên phải (hướng về T) rồi đi lên đứng trên vỉa hè, còn bị cáo cũng đậu xe phía trước xe của anh K rồi đứng lên hành lang phía trước Nhà văn hóa cự cãi với chị B được một lúc thì bị cáo quay về phía anh K và dùng tay nắm cổ áo anh K định đánh nhưng bị chị B cản và dùng mũ bảo hiểm đánh vào người bị cáo làm mũ bảo hiểm rớt xuống đất và đẩy bị cáo tránh xa vị trí của anh K. Anh K đi đến dựa xe lên quay mặt về hướng vòng xoay để tránh bị cáo, còn bị cáo và chị B đứng sau lưng anh K tiếp tục cự cãi. Trong lúc này anh K đang đứng thì bị cáo đi tới dùng tay đánh một cái trúng vào vai bên trái và dùng chân đạp một cái trúng vào vùng lưng bên trái của anh K làm cho anh K té ngã người nằm sấp lên xe của anh K và làm xe anh K cũng ngã theo ra ngoài đường. Thấy anh K bị té nên chị B dùng guốc đang mang đánh và xô bị cáo vào phía trong hành lang nhà văn hóa, còn anh K thì đứng dậy dựng xe mô tô lên và tiếp tục ngồi lên xe mô tô để đợi chị B nhưng lúc này chị B và bị cáo vẫn còn tiếp tục cãi nhau trên hành lang nhà văn hóa. Trong lúc anh K đang ngồi trên xe thì bị cáo tiếp tục bước tới trước mặt anh K và dùng tay đánh một cái trúng vào vùng mắt bên phải và mũi làm anh K bị chảy máu mũi, chị B vào can ngăn và đẩy bị cáo ra xa vị trí của anh K. Sau đó anh K điều khiển xe mô tô đi về trước, còn chị B và bị cáo ở lại tiếp tục cãi nhau, một lúc sau thì lực lượng Công an thị trấn T đến can thiệp, mời bị cáo và chị B về trụ sở làm việc. Anh K chạy xe đi về thì không về nhà mà ghé vào nhà anh Lâm Thành Q để xin trứng gà lăn vết bầm ở vùng mắt. Sau đó anh K hay tin Công an thị trấn T mời anh lên làm việc nên anh nhờ anh Q chở lên. Trong lúc đang ở Công an thị trấn T, anh K bị đau ở vùng bụng bên trái không làm việc được nên phải vào nhập viện ở bệnh viện đa khoa khu vực T rồi chuyển lên Bệnh viện đa khoa tỉnh T điều trị (phẫu thuật cắt Lách) đến ngày 03/9/2019 xuất viện. Căn cứ bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 171/TgT ngày 30/10/2019 của Trung tâm pháp y- Sở Y tế tỉnh T kết luận: Tỷ lệ tổn thương đối với Bùi Linh K là 36% (Ba mươi sáu phần trăm) theo nguyên tắc cộng. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 09/2020/HS-ST, ngày 11/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh T đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “ Cố ý gây thương tích” Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1,2 Điều 51, Điều 54, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Ng 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, nhưng được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 19/12/2019 đến ngày 09/01/2020 là 22 ngày, bị cáo còn phải chấp hành 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng 08 (Tám) ngày; Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật bắt bị cáo chấp hành án. Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Ngày 25/5/2020 bị cáo Nguyễn Văn N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo là đúng như nội dung án sơ thẩm mô tả, bị cáo thống nhất tội danh mà Tòa án sơ thẩm đã quy kết, bị cáo không kêu oan, chỉ kháng cáo xin được hưởng án treo. Quan điểm của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh: Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật. Về hình phạt cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tính chất mức độ hành vi, nguyên nhân hậu quả một cách toàn diện nên không có cơ sở xem xét để cho bị cáo hưởng án treo cần cách ly bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe cho xã hội. Nên đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm. Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Văn N xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Ng là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận. [2] Đối với yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn N. Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Ngày 24/8/2019 do bị cáo thấy anh K chở vợ bị cáo (Trương Thị Ngọc B) bị cáo ghen nên dùng tay đánh vào mặt của anh K, dùng chân đạp vào vùng lưng của anh K gây thương tích với tỷ lệ tổn thương là 36% là phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, án sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” là chính xác đúng pháp luật.

Mặc dù trong vụ án này giữa bị cáo và bị hại không hề có mâu thuẫn từ trước nhưng chỉ vì bị cáo nhìn thấy chị B là vợ bị cáo được anh K chở bị cáo ghen nên điều khiển xe chạy theo kêu anh K dừng xe lại nói chuyện, sau khi anh K tắp xe vào lề, bị cáo không nói gì mà dùng tay đánh vào mặt của anh K, dùng chân đạp vào vùng lưng của anh K té ngã người lên xe dẫn đến anh K bị thương (BL 63-64, 69-70, 75-76, 79-8) ở lách phải phẫu thuật cắt lách với tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại anh K 36%. Đúng ra trong vụ án này bị cáo phải bình tỉnh hỏi rỏ anh K và chị B đi đâu cùng một chiếc xe nếu bị cáo tìm hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện thì sẽ không xảy ra vụ án nêu trên, trong vụ án này bị cáo không kiềm chế bản thân để xảy ra vụ án. Do đó, án sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Sau khi phạm tội bị cáo đã tỏa ra ăn năng hối cải, thật thà khai báo, đến thời điểm xét xử phúc thẩm hôm nay bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại, hoàn cảnh gia đình bị cáo neo đơn, bị cáo thuộc thành phần lao động chân chính. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện, khách quan, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, hình phạt trên là không nặng, mức hình phạt đã đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương.Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ chính đáng nào mới. Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh T. [3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên xét xử phúc thẩm là phù hợp với tính chất và tình tiết khách quan của vụ án như nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. [4] Về án phí: Do không được chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm, không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn N. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 09/2020/HS-ST ngày 11/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh T. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Nhưng được trừ thời hạn tạm giam từ ngày 19/12/2019 đến ngày 09/01/2020 là 22 ngày, bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 05 (năm) tháng 08 (tám) ngày, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ