- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trọng T phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đ…"
- Tòa quyết gì? 1. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Trọng T 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 06-9-2019.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2020/HS-PT Ngày 21 - 4 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐĂK NÔNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Đức Dương
Các Thẩm phán: Ông Đỗ Đồng Chung và ông Lê Quốc Hương
- Thư ký phiên toà: Bà Lương Thúy Hảo là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Tố Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đăk Nông xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2020/TLPT-HS, ngày 07-01-2020 đối với bị cáo Lê Trọng T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2019/HS-ST ngày 29-11-2019 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa.
Bị cáo có kháng cáo: Lê Trọng T, sinh năm 1995 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Tổ X, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lái xe ô tô; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Trọng M và bà Lê Thị H; có vợ là Hoàng Thị Kim P và 01 con; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06-9-2019 - Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Văn Quang, Luật sư Văn phòng Luật sư Tâm Pháp Quyền thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 05-9-2019, chị Phí Thị Th và anh Nguyễn Ngọc H tổ chức sinh nhật cho con trai tại nhà hàng HL có mời Lê Trọng T, vợ chồng anh Nguyễn Mạnh C và chị Hà Thị Ngọc T, vợ chồng anh Nguyễn Minh T và chị Trần Thị Ng và một số người khác.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì mọi người rủ nhau đi hát tại quán karaoke HT tọa lạc tại tổ E, phường N1, thành phố G. Trong lúc hát, chị Ng dùng điện thoại di động để chụp ảnh, do Lê Trọng T có dẫn bạn gái tên Ph (không rõ nhân thân, lai lịch) đi cùng, sợ bị vợ biết nên không đồng ý và có lời qua tiếng lại với chị Ng. Sau đó, Ph đi về trước. Đến khoảng 22 giờ 30 phút thì mọi người cùng nghỉ hát, khi ra đến bãi đậu xe phía trước quán karaoke chị Ng và Lê Trọng T tiếp tục cãi nhau. Lúc này, thấy Lê Trọng T có ý định đánh chị Ng nên anh C đi từ phía sau túm cổ áo Lê Trọng T kéo ngược lại và dùng tay, chân đánh vào người Lê Trọng T thì được mọi người can ngăn. Sau đó, Lê Trọng T đi đến xe ô tô biển kiểm soát 48A-060.69 (xe thuộc quyền sở hữu của mẹ Lê Trọng T là bà Lê Thị H) lấy 01 con dao loại Thái Lan, dài khoảng 23cm, cầm dao bằng tay phải chạy đến chỗ anh C đang đứng đâm 01 nhát theo hướng từ trước ra sau trúng vào vùng bụng phía bên phải của anh C. Thấy vậy, mọi người chạy đến can ngăn và đưa anh C đi cấp cứu, Lê Trọng T bỏ trốn khỏi hiện trường.
Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 269/TgT ngày 14-9-2019 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Đ kết luận: Anh Nguyễn Mạnh C bị thủng ruột non từ ba lỗ trở lên đã xử trí, tỷ lệ 36%; phẫu thuật xử trí tổn thương ở mạc treo khâu cầm máu đơn thuần, tỷ lệ 26% cộng lùi 16,64%; sẹo vết thương phần mềm số lượng ít, kích thước lớn, tỷ lệ 08% cộng lùi bằng 3,78%; tổng tỷ lệ tích là 56,42%.
Bản án hình sự sơ thẩm số: 76/2019/HS-ST ngày 29-11-2019 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa, quyết định: Tuyên bố bị cáo Lê Trọng T phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Trọng T 02 năm 09 tháng tù. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, vật chứng, về án phí và thông báo quyền kháng cáo.
Ngày 06-12-2019, bị cáo Lê Trọng T kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Lê Trọng T thừa nhận bị Tòa án nhân thành phố Gia Nghĩa xử phạt về tội “Cố ý gây thương tích” là đúng, không oan và giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Nông sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Luật sư trình bày luận cứ bào chữa: Trong vụ án này bị cáo phạm tội thuộc trường hợp bị kích động mạnh về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại nhưng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét. Ngoài ra, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới: Ông, bà nội của bị cáo là người có công với cách mạng và gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm e khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
. Bản án sơ thẩm số: 76/2019/HS-ST ngày 29-11-2019 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa đã kết án bị cáo Lê Trọng T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung tăng nặng “Dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
. Xét kháng cáo của bị cáo và luận cứ bào chữa của luật sư, Hội đồng xét xử xét thấy: Mặc dù bị hại có sử dụng tay, chân đánh vào người bị cáo nhưng đã được can ngăn kịp thời, tại thời điểm này bị cáo còn đầy đủ khả năng nhận thức về hành vi của mình, chưa lâm vào trạng thái không làm chủ được bản thân. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã căn cứ vào các tình tiết, diễn biến của vụ án và nhận định “Người bị hại cũng có lỗi” để áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo là đúng pháp luật. Ngoài ra, tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm gia đình bị cáo cung cấp thêm tình tiết chứng minh ông, bà nội của bị cáo là người có công với cách mạng. Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì chỉ những người thân thích của bị cáo là người có công với cách mạng: Vợ, chồng, cha, mẹ, con (con đẻ hoặc con nuôi), anh, chị, em, ruột mới được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Mặt khác, xét mức hình phạt Hội đồng xét xử sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là có phần nhẹ so với tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Song, bản án sơ thẩm không bị kháng nghị theo hướng tăng hình phạt đối với bị cáo, đồng thời để ổn định bản án, Hội đồng xét xử phúc thẩm không kiến nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm. Như vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo cũng như luận cứ bào chữa của luật sư đối với bị cáo.
. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Lê Trọng T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Trọng T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 76/2019/HS-ST ngày 29-11-2019 của Tòa án nhân dân thành phố Gia Nghĩa về phần hình phạt.
1.1. Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Trọng T 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 06-9-2019.
1.2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Trọng T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC (Vụ I); - VKSND tỉnh Đắk Nông; - CQTHAHS Công an tỉnh Đ; - Sở Tư pháp tỉnh Đ; - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh Đ; - CQCSĐT Công an tp. Gia Nghĩa; - TAND tp. Gia Nghĩa; - VKSND tp. Gia Nghĩa; - CQTHAHS Công an tp. G; - Chi cục THADS tp. G; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Tổ HCTP, HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Lương Đức Dương |