- Tranh chấp gì? án hình sự — "Long Văn H và đồng bọn - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 17 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 173 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2020/HS-PT Ngày 21/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Quang Huy.
Các Thẩm phán: Ông Ma Quốc Tuấn và ông Chu Đức Quế.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hảo – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Đổi - Kiểm sát viên.
Ngày 21/9/2020 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 14/2020/TLPT-HS ngày 01/7/2020 đối với các bị cáo Long Văn H, Đỗ Văn H1 do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2020/HS-ST ngày 20/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
Các bị cáo bị kháng nghị:
1. Long Văn H, sinh ngày 13/3/1981 tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã X, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 3/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Long Văn H và bà Cà Thị H; Vợ là Ma Thị B và có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2004; Tiền án: Không; Tiền sự: 02 (Năm 2017 đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội tỉnh Bắc Kạn; Ngày 13/6/2019 bị Công an xã Xuân La, huyện Pác Nặm xử phạt vi phạm hành chính về hành vi bạo lực gia đình); Về nhân thân: Năm 2007 bị Công an huyện Pác Nặm xử phạt vi phạm hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng. Năm 2009 đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội tỉnh Bắc Kạn. Năm 2012 bị TAND huyện Pác Nặm xử phạt 24 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", đã được xóa án tích. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Đỗ Văn H1, sinh ngày 12/8/1995 tại huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã X, huyện P, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn T (đã chết) và bà Ma Thị T; Vợ là Ma Thị T (đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 (Năm 2017 đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh - giáo dục - lao động xã hội tỉnh Bắc Kạn đến ngày 13/6/2018 chấp hành xong). Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Những người tham gia tố tụng khác không liên quan đến kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 26/10/2019, Long Văn H điều khiển xe môtô nhãn hiệu Yamaha BKS 97F7 - 7435 chở Đỗ Văn H1 đi từ huyện B, tỉnh Bắc Kạn về xã X, huyện Pác Nặm. Khoảng 22 giờ cùng ngày thì đi đến khu vực đèo Yêu, H điều khiển xe đi vào đường mòn lên đến khu vực đỉnh đồi thuộc địa phận thôn T, xã X thì dừng xe. H và H1 xuống xe ngồi nói chuyện, hút thuốc lá. Đến khoảng 00 giờ ngày 27/10/2019, trong lúc nói chuyện, H1 hỏi “Biết chỗ nào có dê bán không?”, một lúc sau H nói “dưới Khuổi Slỉ có cái chuồng nhưng không biết có dê không, xuống xem đi”. Lúc này cả H1 và H đều hiểu là xuống xem nếu có dê thì sẽ lấy trộm. H mở cốp xe môtô lấy một chiếc đèn pin sử dụng để soi đường, H và H1 đi bộ theo lối mòn qua đồi xuống đến khu vực chuồng dê của Lầu A L thuộc thôn T, xã X, huyện Pác Nặm. Xuống gần đến nơi, H bảo H1 đứng đợi, H cầm đèn pin đi trước đến chuồng dê và soi thấy có nhiều con dê to nhỏ khác nhau nên quay ra bảo với H1 “Có dê đấy”. Sau đó cả H1 và H đi đến chuồng dê, H bước qua thành chuồng vào bên trong rồi dùng đèn pin soi thấy một con dê đực lông màu đen trắng đang bị buộc dây thừng vào thành chuồng. H cởi đầu dây buộc vào thành chuồng và dắt con dê đực ra sát thành chuồng rồi cầm sừng giữ con dê, H1 nói “sợ con dê kêu bị lộ, đi tìm dây về buộc mồm lại”, H1 đi tìm dây nhưng không có nên đã lấy 01 cuộn băng dính màu đen trong túi áo rồi dùng băng dính quấn mồm con dê lại. Sau đó H đứng phía bên trong chuồng dê còn H1 đứng phía bên ngoài chuồng cùng giúp nhau nhấc con dê ra khỏi chuồng, H1 buộc con dê vào thành chuồng phía bên ngoài, H tiếp tục soi tìm thấy một con dê cái lông màu đen cũng bị buộc dây thừng vào thành chuồng, H và H1 tiếp tục cùng nhau lấy con dê cái ra khỏi chuồng. Do con dê đực có đeo chuông ở cổ nên H1 cởi chuông và để cạnh chuồng dê, sau đó H1 cầm đèn pin để soi đường và dắt con dê cái, H dắt con dê đực đi ra theo đường cũ đến vị trí để chiếc xe môtô. H lấy trong cốp xe ra một chiếc bao tải rồi cùng H1 cho con dê cái vào trong bao và đặt lên giá để hàng phía trước xe môtô, H1 ngồi phía sau xe giữ con dê đực. H điều khiển xe môtô chở H1 cùng hai con dê vừa trộm cắp được đi bán cho ông Đặng Văn H sinh năm 1980 trú tại thôn B, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Khi giao dịch, H1 và Đặng Văn H cân dê, con dê đực có trọng lượng 27 kg, con dê cái có trọng lượng 26 kg, cả hai con dê bán được số tiền là 3.700.000đ. Sau khi bán xong, cả hai thống nhất chia đôi tiền, do H nợ tiền H1 từ trước nên H1 trừ tiền H nợ và đưa lại cho H số tiền là 870.000đ. Sau đó cả H và H1 đã tiêu dùng cá nhân hết số tiền bán dê có được. Đặng Văn H sau khi mua hai con dê thì ngày 27/10/2019 đã thịt con đực đem bán, ngày 28/10/2019 Đặng Văn H bán con dê cái cho Hoàng Thị T sinh năm 1975 trú tại thôn N, xã Đ, huyện B, tỉnh Bắc Kạn được số tiền 2.350.000 đồng. Sau khi mua dê, do có nghi ngờ nên T đã trình báo cơ quan Công an.
Tiến hành điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm đã lấy lời khai của bị can, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, khám nghiệm hiện trường và yêu cầu định giá tài sản.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 10/12/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Pác Nặm xác định: Hiện trường vụ trộm cắp tài sản là tại đồi Khuổi Slỉ thuộc thôn T, xã X, huyện P. Phía Đông tiếp giáp đồi của Lầu A L, Phía Tây tiếp giáp nhà của Lý Văn D, phía Nam tiếp giáp đồi của Cà Văn T, phía Bắc tiếp giáp đồi của Lý Văn S. Chuồng dê được dựng bên dưới vách đá trên khoảng đất có kích thước (07 x 05) mét, chuồng làm bằng cây vầu, không có mái che, có kích thước (2,7 x 2,55 x 01) mét. Cách chuồng dê 400 mét về hướng Đông Bắc là vị trí để xe môtô, vị trí này có kích thước (4,5 x 03) mét.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 06 ngày 10/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Pác Nặm kết luận: 01 con dê đực có trọng lượng 27 kg trị giá 4.050.000 đồng, 01 con dê cái có trọng lượng 26 kg trị giá 3.380.000 đồng. Tổng trị giá 7.430.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Long Văn H, Đỗ Văn H1 khai nhận: Khoảng 00 giờ ngày 27/10/2019, trong lúc ngồi nói chuyện tại khu đồi thuộc thôn T, xã X, huyện P thì H1 có hỏi chỗ nào bán dê, H biết dưới Khuổi Slỉ có chuồng dê nên đã rủ H1 xuống xem nếu có thì lấy. Do có mục đích trộm cắp dê nên H và H1 đã cùng nhau đi đến chuồng dê của Lầu A L và thực hiện hành vi trộm cắp hai con dê.
Với hành vi đã nêu của các bị cáo, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2020/HS-ST ngày 20/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn đã tuyên bố các bị cáo Long Văn H, Đỗ Văn H1 phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Long Văn H 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Văn H1 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã X, huyện P, tỉnh Bắc Kạn nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo Long Văn H và Đỗ Văn H1 cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện P, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo H và bị cáo H1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã X trong việc giám sát giáo dục các bị cáo.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 03/6/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn kháng nghị phần hình phạt chính và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Long Văn H tại bản án sơ thẩm nói trên và đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
- Không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Long Văn H.
- Không áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ mà áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Long Văn H.
Ngày 17/6/2020,Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn kháng nghị phần nhận định và hình phạt đối với bị cáo Đỗ Văn H1, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng:
- Sửa phần nhận định của bản án sơ thẩm với nội dung: Bị cáo Đỗ Văn H1 không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Không áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ mà áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Đỗ Văn H1.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên các nội dung đã kháng nghị và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn; Sửa bản án sơ thẩm theo hướng không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn" theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Long Văn H; Sửa phần nhận định của bản án sơ thẩm với nội dung: Bị cáo Đỗ Văn H1 không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về hình phạt chính đề nghị không áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ mà chuyển sang hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Long Văn H từ 07 đến 09 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Văn H1 từ 06 đến 07 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đảm bảo về chủ thể, thẩm quyền và thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên được Hội đồng xét xử xem xét theo quy định.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã tuyên, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 00 giờ ngày 27/10/2019 tại thôn T, xã X, huyện P, tỉnh Bắc Kạn, Long Văn H và Đỗ Văn H1 đã có hành vi trộm cắp 02 con dê có tổng trọng lượng 53 kg của gia đình ông Lầu A L. Giá trị của hai con dê tại thời điểm bị chiếm đoạt là 7.430.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, việc bản án sơ thẩm quy kết các bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Xét các nội dung kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn:
* Đối với nội dung kháng nghị: Không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Long Văn H; Sửa phần nhận định của bản án sơ thẩm với nội dung: Bị cáo Đỗ Văn H1 không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Quá trình xét xử, cấp phúc thẩm nhận thấy, tại bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm đã cho bị cáo Long Văn H hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự và tại phần nhận định của bản án nêu bị cáo Đỗ Văn H1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn”, tuy nhiên trong phần quyết định thì lại không áp dụng. Cấp phúc thẩm thấy rằng, việc cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” cho các bị cáo là không phù hợp. Mặc dù hiện nay các quy định của pháp luật chưa hướng dẫn cụ thể việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ này, tuy nhiên căn cứ vào diễn biến hành vi phạm tội của các bị cáo, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và việc các bị cáo cùng nhau cố tình thực hiện tội phạm đến cùng để xảy ra thiệt hại, thiệt hại xảy ra nằm trong ý định của các bị cáo, thì việc cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” là chưa phù hợp. Hơn nữa, định lượng của tội Trộm cắp tài sản là giá trị thiệt hại từ 2.000.000 đồng trở lên, trong khi giá trị thiệt hại các bị cáo chiếm đoạt là 7.430.000 đồng gấp 3 lần mức định lượng nên không thể nhận định là phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Do đó, kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn về nội dung này có căn cứ cần được chấp nhận. Theo đó không áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” đối với bị cáo Long Văn H, sửa phần nhận định của bản án sơ thẩm với nội dung: Bị cáo Đỗ Văn H1 không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
* Đối với nội dung kháng nghị: Không áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ mà áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Long Văn H và Đỗ Văn H1:
Cấp phúc thẩm nhận thấy, bản án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Long Văn H 18 tháng cải tạo không giam giữ, Đỗ Văn H1 12 tháng cải tạo không giam giữ là chưa phù hợp và chưa đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm. Bởi lẽ, các bị cáo Long Văn H, Đỗ Văn H1 đều là những đối tượng có nhân thân xấu, ngoài lần phạm tội này trước đó đã nhiều lần có hành vi vi phạm bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hiện tại bị cáo Long Văn H còn 02 tiền sự, bị cáo Đỗ Văn H1 còn 01 tiền sự chưa được xóa. Bên cạnh đó, các bị cáo đều giữ vai trò quan trọng trong vụ án, Long Văn H là người khởi xướng, chỉ huy việc trộm cắp, còn Đỗ Văn H1 là người giúp sức tích cực cho Long Văn H. Nếu không có H1 thì H không thể thực hiện được tội phạm và ngược lại. Do đó, khi lượng hình cần có một hình phạt nghiêm khắc mới thể hiện được sự nghiêm minh của pháp luật đối với những đối tượng không có khả năng tự cải tạo và coi thường pháp luật. Từ đó, cần chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn chuyển hình phạt cải tạo không giam giữ sang hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 2 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. Chấp nhận toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 06/2020/HS-ST ngày 20/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Long Văn H 07 (Bảy) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đỗ Văn H1 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - Phòng Hồ sơ Công an tỉnh; - Sở Tư pháp; - Công an huyện P; - VKSND huyện P; - TAND huyện P; - Chi cục THADS huyện P; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Quang Huy |