- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Trịnh Đình T và chị Lê Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định đây
| TÒA ÁN ND HUYỆN VĨNH LỘC TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21 /2020/ HNGĐ-ST Ngày: 14 - 12- 2020 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH LỘC - TỈNH THANH HOÁ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Bà Ngô Thị Tuyết
- Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Lê Văn Hoàn và ông Phạm Ngọc Dung.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Lệ Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá.
Ngày 14 tháng 12 năm 2020, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá, xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 117/2020/TLST- DS ngày 07 tháng 10 năm 2020, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2020/QĐXXST- DS ngày 01 tháng 12 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Trịnh Đình T - Sinh năm: 1978.
Trú tại: Thôn B, xã V P, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Có mặt.
2. Bị đơn: Chị Lê Thị N - Sinh năm 1984.
Nơi ĐKHKT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn B, xã V P, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn đã bị tuyên bố mất tích theo quyết định giải quyết việc dân sự số 02/2020/QĐDS - ST ngày 30/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06/10/ 2020, bản tự khai ngày 20/10/2020 nguyên đơn là anh Trịnh Đình T trình bày: Anh Trịnh Đình T và chị Lê Thị N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Phúc, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 08 tháng 4 năm 2003. Sau khi kết hôn được 10 ngày thì chị N bỏ nhà đi cho đến nay, không có tin tức gì. Sau khi chị N bỏ đi khỏi địa phương, anh T đã cùng gia đình nhiều lần đi tìm kiếm khắp mọi nơi nhưng không ai biết thông tin gì về chị N hiện ở đâu và làm gì. Anh Trịnh Văn T đã làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa tuyên bố chị N mất tích. Tại quyết định giải quyết việc dân sự số 02 ngày 30/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên bố chị Lê Thị N mất tích. Nay anh T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, hạnh phúc gia đình đã thực sự tan vỡ không thể hàn gắn được nữa, vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho anh T được ly hôn chị Lê Thị N.
2. Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Về tài sản chung: Vợ chồng không có tài sản gì chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về công nợ: Vợ chồng không vay nợ ai và không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
XÉT THẤY
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến của đương sự có mặt tại phiên toà. Sau khi T luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật tranh chấp, tư cách đương sự và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Trịnh Đình T có đơn khởi kiện về việc: “ Ly hôn” đối với chị Lê Thị N có hộ khẩu thường trú tại xã Vĩnh Phúc, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự xác định đây là vụ án: “ Ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Về hôn nhân: Anh Trịnh Đình T và chị Lê Thị N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Vĩnh Phúc, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá vào ngày 08 tháng 4 năm 2003 là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng chỉ chung sống hòa thuận, hạnh phúc với nhau được một thời gian ngắn thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp nên vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống. Chị Lê Thị N đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 05 năm 2003 mà không thông báo cho anh Trịnh Đình T hoặc người thân trong gia đình biết. Anh T và gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng vẫn không có tin tức gì của chị N. Ngày 03/3/2020 anh T đã làm thủ tục để yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa tuyên bố chị N mất tích. Sau 04 tháng kể từ ngày đăng phát tin tìm kiếm lần đầu nhưng chị N vẫn không về. Tại quyết định giải quyết việc dân sự số: 02/2020/QĐDS-ST ngày 30/7/2020 Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Lôc, tỉnh Thanh Hóa đã tuyên bố chị Lê Thị N mất tích. Nay anh T xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị N không còn, hôn nhân đã thực sự tan vỡ không thể níu kéo được nữa nên anh T đề nghị được ly hôn chị N.
Xét thấy: Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng giữa anh T và chị N đã có nhiều rạn nứt, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị N đã bỏ đi khỏi địa phương từ tháng 05/2003 đến nay không có tin tức gì. Chị N đã bị Tòa án tuyên bố mất tích vì vậy xử cho anh T được ly hôn chị N là phù hợp với khoản 2 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh Trịnh Đình T và chị Lê Thị N không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và công nợ chung:
Trong quá trình chung sống vợ chồng anh T, chị N không có tài sản chung và công nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Anh T phải nộp toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, khoản 4 Điều điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Khoản 2 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Trịnh Đình T và chị Lê Thị N.
2. Về án phí: Anh Trịnh Đình T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số AA/2018/0004751 ngày 06 tháng 10 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Anh T đã nộp đủ số tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Anh Trịnh Đình T được quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Lê Thị N được quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản án tại địa phương nơi chị Lê Thị N có hộ khẩu thường trú cuối cùng.
Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND huyện Vĩnh Lộc
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự.
- UBND xã Vĩnh Phúc.
- Lưu hồ sơ
Ngô Thị Tuyết
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Văn Hoàn
Ngô Thị Tuyết
Phạm Ngọc Dung
| Nơi nhận: - VKSND huyện Vĩnh Lộc - Các đương sự. - UBND x· Ma Đa Guôi. - Lưu hồ sơ | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Tuyết |