vanban.org

Bản án 21/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Cẩm G. Chị Võ Thị Cẩm G được ly hôn anh Võ Văn H.

Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Anh Võ Văn H được tiếp tục nuôi con chung tên Võ Minh V, sinh ngày 12/6/2012 và Võ Minh Đ, sinh ngày 01/4/2016. Anh Võ Văn H và các thành viên trong gia đình không được cản trở chị Võ Thị Cẩm G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giá…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Cẩm G. Chị Võ Thị Cẩm G được ly hôn anh Võ Văn H.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG THÁP
Bản án số: 21/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 6 - 2020
Về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Bích Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Đặng Văn Hai;

2. Ông: Nguyễn Phát Triển.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Cao Diễm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lai Vung.

Ngày 25 tháng 6 năm 2019 tại hội trường Toà án nhân dân huyện Lai Vung xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 101/2020/TLST- HNGĐ, ngày 20/4/2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 8 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Võ Thị Cẩm G, sinh năm: 1993; địa chỉ: ấp HT, xã TH, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp; Tạm trú: nhà trọ VH, kinh TT TĐ, huyện TĐ, tỉnh ST (có mặt).

2. Bị đơn: Võ Văn H, sinh năm: 1992; địa chỉ: 3 ấp HT, xã TH, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo các chứng cứ có trong hồ sơ cũng như tại phiên toà nguyên đơn Võ Thị Cẩm G trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2011 Võ Thị Cẩm G và anh Võ Văn H tự tìm hiểu rồi quen nhau sau đó tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và ngày 18/8/2016 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TH, huyện Lai Vung. Quá trình chung sống hạnh phúc không bao lâu thì phát sinh mâu thuẫn do anh H không lo làm ăn,và có tính hay ghen vô cớ, thường xuyên uống rượu vào là đánh Võ Thị Cẩm G bầm mặt rất nhiều lần, có lần Võ Thị Cẩm G báo chính quyền địa phương như không có lập biên bản, từ năm 2017 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng Võ Thị Cẩm G nhiều lần bỏ nhà đi nhưng suy nghĩ lại nên về hàn gắn tình cảm vợ chồng cùng nhau nuôi con nhưng Võ Văn H tính tình vẫn không thay đổi, từ tháng 02/2019 vợ chồng đã ly thân và không có liên hệ gì từ đó đến nay. Nay Võ Thị Cẩm G không còn tình cảm nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên Võ Thị Cẩm G xin được ly hôn với Võ Văn H.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Minh V, sinh ngày 12/6/2012; Võ Minh Đ, sinh ngày 01/4/2016. Chị Võ Thị Cẩm G đồng ý giao hai con cho anh Võ Văn H nuôi và không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung khi ly hôn: Chị Võ Thị Cẩm G không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung khi ly hôn: Chị Võ Thị Cẩm G không yêu cầu giải quyết.

* Trong quá trình giải quyết vụ án và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa bị đơn Võ Văn H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Lời trình bày của Võ Thị Cẩm G là đúng, vào năm 2011 Võ Thị Cẩm G và Võ Văn H tự tìm hiểu rồi quen nhau sau đó tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TH, huyện Lai Vung. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẩn, khi trong mình có rượu do nóng tính nên có đánh vợ nhưng còn thương vợ và con nên không đồng ý ly hôn. Võ Văn H muốn vợ chồng hàn gắn tình cảm để cùng nuôi con nhưng không có biện pháp gì để vợ chồng hàn gắn và cũng không hứa hẹn thay đổi gì để vợ chồng đoàn tụ.

- Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Minh V, sinh ngày 12/6/2012; Võ Minh Đ, sinh ngày 01/4/2016. Anh Võ Văn H đồng ý nuôi hai người con tên Võ Minh V, sinh ngày 12/6/2012; Võ Minh Đ, sinh ngày 01/4/2016 và không yêu cầu chị Võ Thị Cẩm G cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản khi ly hôn: Anh Võ Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ khi ly hôn: Anh Võ Văn H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Võ Thị Cẩm G có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị với anh Võ Văn H. đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã TH, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp cho nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lai Vung theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Võ Thị Cẩm G với anh Võ Văn H sống chung với nhau từ năm 2011, có đăng ký kết hôn theo đúng quy định pháp luật, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận là vợ chồng. Quá trình chung sống Võ Thị Cẩm G với Võ Văn H thường xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường cự cải, xung đột, Võ Văn Hội thường hay uống rượu say, đánh Võ Thị Cẩm G, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nhiều Võ Thị Cẩm G đã nhiều lần bỏ nhà đi nhưng sau đó quay về sống chung, đến nay mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên nhất quyết xin ly hôn. Anh Võ Văn H cho rằng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, Võ Văn H thường hay uống rượu, khi say rượu hai vợ chồng cự cải nhau do Võ Văn H nóng tính nên có đánh Võ Thị Cẩm G. Anh Võ Văn H không đồng ý ly hôn nhưng từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn đến nay Võ Văn H không có hành động hay biện pháp nào để hàn gắn được tình cảm vợ chồng, vợ chồng cũng đã có nhiều lần xa nhau rồi đoàn tụ về chung sống với nhau nhưng Võ Văn H vẫn không thay đổi. Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn Võ Thị Cẩm G với Võ Văn H xảy ra ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Cẩm G là có căn cứ, đúng theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 02 con chung tên Võ Minh V, sinh ngày 12/6/2012; Võ Minh Đ, sinh ngày 01/4/2016. Chị Võ Thị Cẩm G đồng ý giao Võ Minh V, sinh ngày 12/6/2012; Võ Minh Đ, sinh ngày 01/4/2016 cho anh Võ Văn H nuôi dưỡng. Anh Võ Văn H đồng ý nuôi hai người con tên Võ Minh V, sinh ngày 12/6/2012; Võ Minh Đ, sinh ngày 01/4/2016 và không yêu cầu chị Võ Thị Cẩm G cấp dưỡng nuôi con. Xét sự thỏa thuận này là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, anh Võ Văn H được tiếp tục nuôi con chung tên Võ Minh V, sinh ngày 12/6/2012 và Võ Minh Đ, sinh ngày 01/4/2016 là có căn cứ, đúng theo quy định với Điều 81, Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Võ Văn H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản khi ly hôn: Võ Thị Cẩm G và Võ Văn H không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về nợ khi ly hôn: Võ Thị Cẩm G và Võ Văn H không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về tiền tạm ứng án phí, án phí: Nguyên đơn Võ Thị Cẩm G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân gia đình là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Cẩm G. Chị Võ Thị Cẩm G được ly hôn anh Võ Văn H.

2. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Anh Võ Văn H được tiếp tục nuôi con chung tên Võ Minh V, sinh ngày 12/6/2012 và Võ Minh Đ, sinh ngày 01/4/2016.

Anh Võ Văn H và các thành viên trong gia đình không được cản trở chị Võ Thị Cẩm G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Án phí và tạm ứng án phí sơ thẩm:

Võ Thị Cẩm G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân là 300.000 đồng. Được khấu trừ 300.000 đồng vào tiền tạm ứng án phí Võ Thị Cẩm G đã nộp theo biên lai số 0000155, ngày 16/4/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (25/6/2020).

Cỡ chữ