- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "A-B-ĐÀI LOAN"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh A với chị B.
- Căn cứ chính? Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2020/HNGĐ-ST Ngày 15 - 5 - 2020 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Thị Huệ
Ông Vũ Xuân Điền
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Yến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Út Mười - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2019/TLST–HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2019 về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh A, sinh năm 1980; Địa chỉ: Đài Loan (có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Chị B, sinh năm 1996; Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu, Việt Nam (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/10/2019 và bản tự khai ngày 25/10/2019, nguyên đơn anh A trình bày: Anh và chị B tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn và được Ủy nhân dân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/5/2019. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, tuy nhiên, sau đó đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, bất hòa về quan điểm, tính tình, ngôn ngữ, công việc và nơi cư trú, lối sống khác biệt. Anh A về Đài Loan không trở lại Việt Nam nữa, còn chị B thì ở lại Việt Nam, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống vợ chồng không thể kéo dài, không thể hòa giải và hàn gắn lại được. Nay anh A yêu cầu được ly hôn với chị B. Về con chung, tài sản chung và nợ chung vợ chồng không có, nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Do bận công việc không thể về Việt Nam tham gia giải quyết được, nên anh A xin được vắng mặt trong các buổi làm việc của Tòa án, yêu cầu Tòa án không tiến hành Hòa giải và không chuyển đơn khởi kiện ly hôn cho Trung tâm hòa giải của Tòa án, anh xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử.
- Đối với bị đơn chị B: Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã thực hiện việc tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị B theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do chị B không có mặt tại nơi cư trú cuối cùng nên Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt theo phương thức niêm yết công khai. Đến nay, Tòa án không nhận được văn bản của chị B về những vấn đề có liên quan đến quan hệ hôn nhân giữa chị và anh A; và chị B cũng không có mặt tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:
+ Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Quá trình giải quyết Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát đúng theo quy định. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
+ Về nội dung vụ án: Anh A và chị B kết hôn, có đăng ký kết hôn và được Ủy nhân dân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 22/5/2019 là hoàn toàn tự nguyện, do đó, hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị sống chung với nhau được một thời gian ngắn thì anh A về Đài Loan và anh xác định không còn tình cảm với chị B, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài. Nay anh A yêu cầu ly hôn, nên giải quyết cho anh chị ly hôn là có căn cứ, phù hợp pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh A, xử cho anh A được ly hôn với chị B. Về con chung, tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh A là người nước ngoài, có quốc tịch Đài Loan và đang cư trú tại địa chỉ: Đài Loan, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khi nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, anh A nộp đầy đủ các văn bản ghi nhận ý kiến của anh A được hợp pháp hóa lãnh sự theo quy định của pháp luật, nên Tòa án không thực hiện thủ tục ủy thác tư pháp để tống đạt văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.
Đối với chị B là bị đơn, chị B có địa chỉ cư trú rõ ràng nhưng đi khỏi nơi cư trú mà không rõ thời điểm trở về, không rõ địa chỉ cư trú mới nên thuộc trường hợp tống đạt bằng phương thức niêm yết công khai theo quy định tại khoản 3 Điều 173; đoạn 2 khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Do anh A có đơn xin xét xử vắng mặt và chị B đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh A và chị B theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung vụ án: Xét quan hệ hôn nhân giữa anh A với chị B, anh A xác định anh chị tự nguyện kết hôn, có đăng ký ký kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam và căn cứ giấy chứng nhận kết hôn do Ủy nhân dân dân huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu cấp ngày 22/5/2019 đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa anh A và chị B là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và lời khai của anh A có cơ sở xác định, sau khi kết hôn anh anh A chỉ chung sống với chị B trong một thời gian ngắn thì anh A về Đài Loan, anh chị không liên lạc với nhau nữa, cả hai đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ngôn ngữ, tính tình không hợp nhau, không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau và đến nay anh A không sang Việt Nam, nay anh A xác định hôn nhân của anh chị không thể hàn gắn để chung sống với nhau được nữa và yêu cầu ly hôn. Đối với chị B được tống đạt văn bản tố tụng theo phương thức niêm yết công khai, Tòa án không nhận được văn bản nêu ý kiến của chị đối với yêu cầu xin ly hôn của anh A.
Hội đồng xét xử xét thấy, theo Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”, theo đó thì giữa anh A và chị B đã không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, hiện nay anh A và chị B không còn liên lạc với nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thực hiện được do mỗi người ở một nơi và không thể đoàn tụ. Do đó, có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của anh A cho anh được ly hôn với chị B.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Theo anh A xác định anh A và chị B không có con chung, tài sản chung và nợ chung, khi ly hôn anh A không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung, tài sản chung và nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm, anh A phải chịu toàn bộ theo quy định của pháp luật.
Xét ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh A và xử cho anh A được ly hôn chị B; Về con chung, tài sản chung và nợ chung anh A không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết; Án phí anh A phải chịu toàn bộ. Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, khoản 3 Điều 173; khoản 5 Điều 177; Điều 179; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 273; Điều 280; Điều 469; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 122, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/ 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh A với chị B.
Xử cho anh A được ly hôn với chị B.
2. Về con chung, tài sản chung và nợ chung: anh A và chị B không có con chung, tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: anh A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), anh A đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0010241 ngày 11/12/2019 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bạc Liêu (do anh C nộp thay) được chuyển thu án phí toàn bộ.
Án xử sơ thẩm công khai, chị B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; anh A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TANDCC tại Tp.HCM; - VKSND tỉnh Bạc Liêu; - UBND huyện Đ; - Cục THADS tỉnh Bạc Liêu; - Đương sự; - Lưu HS, Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Châu Minh Nguyệt |