vanban.org

Bản án 21/2020/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn A và bà Đặng Thị B.

Buộc ông Trần Văn C và bà Trần Thị D phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn A và bà Đặng Thị B số tiền 30.000.000 đồng. Kể từ ngày ông Nguyễn Văn A và bà Đặng Thị B có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Trần Văn C và bà Trần Thị D không thi hành thì ông Trần Văn C và bà Trần Thị D còn phải chịu lãi suất đối… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Văn A, Đặng Thị B và Trần Văn C, Trần Thị D"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn A và bà Đặng Thị B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐẮK SONG
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2020/DSST.
Ngày: 19/6/2020.
“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quách Trọng Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Quang và bà Trần Thị Xanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Chí Công – Thẩm tra viên Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2020 tại Phòng xử án TAND huyện Đắk Song xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án dân sự thụ lý số 301/2019/TLST-DS ngày 20 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2020/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 5 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 29/2020/QĐST-DS ngày 09 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn A và bà Đặng Thị B. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn E, xã F, huyện S, tỉnh Đắk Nông.

Bị đơn: Ông Trần Văn C và bà Trần Thị D, sinh năm 1970. (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn I, xã F, huyện S, tỉnh Đắk Nông.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 25/9/2019;bản tự khai, biên bản lấy lời khai, nguyên đơn ông Nguyễn Văn A và bà Đặng Thị B trình bày:

Ngày 11/10/2018 vợ chồng ông A, bà B cho vợ chồng ông Trần Văn C và bà Trần Thị D vay 30.000.000 đồng, có viết giấy vay tiền, thời hạn thanh toán là 01 tháng (tức ngày 11/11/2018) phải thanh toán, lãi suất thỏa thuận miệng là 2.000 đ/1 triệu/1 ngày. Đến thời hạn trả nợ ông A, bà B yêu cầu vợ chồng ông C, bà Hà phải thanh toán nhưng ông C, bà D không thực hiện. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện ra Tòa án đề nghị giải quyết buộc ông Trần Văn C và bà Trần Thị D phải thanh toán tiền gốc là 30.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi suất.

Tại bản tự khai; biên bản lấy lời khai bị đơn ông Trần Văn C và bà Trần Thị D trình bày: Ông Trần Văn C và bà Trần Thị D công nhận còn nợ của ông Nguyễn Văn A và bà Đặng Thị B số tiền 30.000.000 đồng như nội dung nguyên đơn đã trình bày trong đơn khởi kiện. Tuy nhiên, hiện nay do làm ăn thua lỗ nên bị đơn không có khả năng thanh toán ngay. Bị đơn mong muốn được trả dần số tiền còn nợ lại mỗi tháng từ 1.000.000 đ đến 2.000.000 đ/tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và sự tuân theo pháp luật tố tụng của nguyên đơn, bị đơn trong vụ án:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm túc quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự và có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa vẫn vắng mặt lần thứ hai không có lý do, vì vậy việc xét xử vụ án là đúng theo quy định của pháp luật.

- Về tố tụng: Đảm bảo đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc ông Trần Văn C và bà Trần Thị D phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn A và bà Đặng Thị Thị Thủy số tiền 30.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và việc thẩm tra tại phiên tòa ngày hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn ông Trần Văn C và bà Trần Thị D cư trú tại: thôn I, xã F, huyện S, tỉnh Đăk Nông; vì vậy, tranh chấp giữa các đương sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Ngày 11/10/2018 ông Trần Văn C và bà Trần Thị D vay của ông Nguyễn Văn A và bà Đặng Thị B 30.000.000 đồng, trong quá trình giải quyết tại Tòa án thì ông C, bà D cũng thừa nhận; do đó quan hệ xác định là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Vào ngày 11/10/2018 ông Nguyễn Văn A và bà Đặng Thị B cho ông Trần Văn C và Trần Thị D vay số tiền 30.000.000 đồng, hai bên có viết giấy vay tiền, thời hạn vay là 01 tháng (tức ngày 11/11/2018), với lãi suất thỏa thuận miệng là 2.000 đ/1 triệu/1 ngày, đến thời hạn thanh toán ông A, bà B yêu cầu ông C, bà Hà phải thanh toán nhưng ông C, bà D không thực hiện. Do đó ông A, bà B khởi kiện ra Tòa án. Trong quá trình giải quyết ông C, bà D thừa nhận số nợ trên nhưng vì điều kiện hiện tại khó khăn nên xin được trả dần mỗi tháng từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng nhưng không được ông A, bà B chấp nhận và đề nghị Tòa án buộc ông C, bà D phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

HĐXX thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chính đáng, nên chấp nhận.

Về án phí: Do yêu cầu được chấp nhận, vì vậy ông Trần Văn C và bà Trần Thị D phải chịu toàn bộ án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 217, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn A và bà Đặng Thị B.

Buộc ông Trần Văn C và bà Trần Thị D phải thanh toán cho ông Nguyễn Văn A và bà Đặng Thị B số tiền 30.000.000 đồng.

Kể từ ngày ông Nguyễn Văn A và bà Đặng Thị B có đơn yêu cầu thi hành án mà ông Trần Văn C và bà Trần Thị D không thi hành thì ông Trần Văn C và bà Trần Thị D còn phải chịu lãi suất đối với khoản tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Về án phí: Buộc ông Trần Văn C và bà Trần Thị D phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1.500.000 đồng.

Hoàn trả ông Nguyễn Văn A và bà Đặng Thị B 750.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đắk Song theo biên lai số 0002390 ngày 19 tháng 12 năm 2019.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc Tòa án niêm yết bản án lên Tòa án cấp trên yêu cầu xét xử phúc thẩm.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu yêu cầu thi hành án được thưc hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ