vanban.org

Bản án 21/2019/KDTM-ST — Tranh chấp về mua bán hàng hóa

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty TNHH NT về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa với công ty TNHH Sản xuất thương mại SR.

Buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại SR có nghĩa vụ thanh toán cho công ty TNHH NT số tiền nợ mua bán hàng hóa là 68.200.000 đồng. Trường hợp bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty Nam Thành Tranh chấp HĐ mua bán với cty Sheshin Resin"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty TNHH NT về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa với công ty TNHH Sản xuất thương mại SR.
  • Căn cứ chính? Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HÒA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2019/KDTM-ST
Ngày: 29- 11 - 2019
V/v tranh chấp: Hợp đồng mua bán
hàng hóa.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Kim Hoa;

2. Ông Nguyễn Thanh Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương- là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Quý- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2019/TLST- KDTM ngày 26 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2019/QĐXX-ST ngày 25/10/2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 19/2019/QĐST 13/10/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty TNHH NT.

Địa chỉ trụ sở: khu phố 7, phường BTĐA, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Vĩnh Ph, chức danh giám đốc công ty.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Kim Â, sinh năm 1990. (có mặt)

Địa chỉ: THĐ, Phường 1, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Công ty TNHH Sản xuất thương mại SR.

Địa chỉ trụ sở: Ấp 5, xã ĐHĐ, huyện Đ, tỉnh Long An

Người đại diện: Ông Shen Y, chức danh Giám đốc. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện của công ty TNHH NT và phần trình bày của người đại diện theo ủy quyền như sau:

Công ty TNHH NT yêu cầu Công ty TNHH Sản xuất Thương mại SR phải thanh toán số tiền nợ mua bán hàng hóa (gồm 2000 sản phẩm các loại thùng thiếc, thùng vàng, thùng bóng ấn gọi chung là thùng thiếc) là 68.200.000 đồng và tiền lãi theo lãi suất 0,75%/tháng tạm tính từ 07/5/2019 đến 7/2019 là 1.023.000 đồng.

Tuy nhiên, nay công ty TNHH NT (sau đây viết tắt là công ty NT) chỉ yêu cầu công ty TNHH Sản xuất Thương mại SR (sau đây viết tắt là công ty SR) trả số tiền nợ gốc mua bán hàng hóa 68.200.000 đồng, công ty NT rút lại yêu cầu trả tiền lãi.

Căn cứ khởi kiện:

Từ ngày 01/4/2019 đến tháng 5/2019 công ty NT có bán một số mặt hàng là các loại thùng thiếc (tổng cộng 2000 thùng) cho bị đơn là công ty SR. Sau khi giao hàng, công ty NT đã xuất 02 hóa đơn giá trị gia tăng số 0006623 ngày 07/5/2019 và số 0006599 ngày 29/4/2019. Việc mua bán giữa các bên không ký hợp đồng mà do bị đơn đặt hàng qua điện thoại. Giá mua bán thể hiện qua hóa đơn giá trị gia tăng là 31.000.000 đồng/01 sản phẩm, bao gồm cả thuế giá trị gia tăng thành tiền 68.200.000 đồng (thuế giá trị gia tăng theo 02 hóa đơn ngày 29/4/2019 và ngày 07/5/2019, công ty NT đã nộp thuế cho nhà nước xong).

Việc giao hàng được thực hiện theo phương thức: Tài xế của công ty NT vận chuyển hàng hóa đến giao tại kho của công ty SR tại ấp 5, xã Đức Hòa Đông. Có phiếu xuất kho, do nhân viên của công ty SR ký nhận khi nhận hàng.

Về việc thanh toán tiền: Trước đây các bên đã có giao dịch mua bán hàng hóa qua điện thoại, khi Công ty NT giao hàng cho công ty SR thì hình thức thanh toán là trả tiền mặt trực tiếp (do tài xế xe của công ty NT nhận) hoặc chuyển khoản (thể hiện theo bảng kê giao dịch chuyển khoản qua Ngân hàng ngày 19/4/2019). Tuy nhiên, trong đợt giao hàng theo 04 phiếu xuất kho từ ngày 01/4/2019 đến tháng 5/2019 tương ứng số tiền nợ hàng hóa 68.200.000 đồng thì công ty SR vẫn chưa thanh toán cho công ty NT.

Bị đơn Công ty TNHH Sản xuất Thương mại SR vắng mặt và không có ý kiến trình bày.

Tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được:

Bản sao giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; Giấy ủy quyền của công ty NT; 02 hóa đơn giá trị gia tăng (pho to đối chiếu bản chính); 04 Phiếu xuất kho; Bản tự khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn; bảng kê giao dịch chuyển khoản qua ngân hàng giữa của công ty SR với công ty NT; Sổ chi tiết công nợ của công ty NT; Bản tường trình của tài xế công ty NT về việc giao hàng ; Công văn số 224/SKHĐT ngày 11/10/2019 của Sở kế hoạch đầu tư về cung cấp thông tin của công ty SR kèm bản chụp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Từ khi vụ án được thụ lý đến khi xét xử: Thẩm phán, thư ký, người tiến hành tố tụng tại phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự

Về nội dung: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của công ty NT, căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện công ty NT có giao dịch mua bán hàng hóa với công ty SR, công ty NamThành đã giao hàng 2000 sản phẩm thùng thiếc cho công ty SR thể hiện theo các phiếu xuất kho. Bị đơn công ty SR vắng mặt và không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh. Căn cứ vào tài liệu mà công ty NT cung cấp và tài liệu Tòa án thu thập được, đề nghị Hội động xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty NT.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty TNHH NT khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH Sản xuất thương mại SR phải thanh toán số tiền nợ mua bán hàng hóa. Xét thấy, đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa nguyên đơn và bị đơn đều là tổ chức có đăng ký kinh doanh. Bị đơn có địa chỉ trụ sở tại xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 30; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 317 Luật Thương mại thì đây là tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

Về phạm vi giải quyết vụ án: Công ty NT khởi kiện yêu cầu công ty SR phải thanh toán số tiền nợ mua bán hàng hóa, tại phiên tòa nguyên đơn rút lại yêu cầu trả lãi. Bị đơn vắng mặt, không có yêu cầu phản tố. Căn cứ Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xem xét giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về việc hòa giải và việc xét xử vắng mặt đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải, căn cứ Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án trên thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Do đó Tòa án chỉ tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận Hải khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải. Tòa án đã thực hiện thủ tục cấp, tống đạt văn bản tố tụng là quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là công ty SR nhưng bị đơn vắng mặt, căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung: Công ty NT yêu cầu Công ty SR phải thanh toán số tiền nợ mua bán hàng hóa là 68.200.000 đồng, công ty NT rút lại yêu cầu trả lãi theo lãi suất 0,75%/tháng tạm tính từ 07/5/2019 đến 7/2019 là 1.023.000 đồng. Bị đơn vắng mặt, không có ý kiến trình bày.

Xét thấy, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Bị đơn vắng mặt không có ý kiến trình bày, không cung cấp tài liệu chứng cứ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp và tài liệu mà Tòa án thu thập được để giải quyết.

Theo các phiếu xuất kho ngày 01/4/2019, ngày 08/4/2019, ngày 13/4/2019 và ngày 07/5/2019 của công ty NT và phần trình bày xác nhận của ông Lợi Hưng Phước là tài xế xe của công ty NT thể hiện công ty NT đã giao 2000 sản phẩm gọi chung là thùng thiếc cho công ty SR tại ấp 5, xã ĐHĐ, huyện Đ, khi giao hàng có nhân viên của công ty SR ký nhận.

Theo 02 hóa đơn giá trị gia tăng số 0006623 ngày 07/5/2019 và số 0006599 ngày 29/4/2019 thể hiện công ty NT đã bán cho công ty SR 2000 sản phẩm thùng thiếc với giá 31.000.000 đồng/01 sản phẩm. Tổng cộng thành tiền 68.200.000 đồng (bao gồm thuế giá trị gia tăng). Công ty NT đã thực hiện kê khai và nộp thuế cho 02 hóa đơn trên tại kho bạc nhà nước quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ đó có cơ sở xác định giữa công ty NT và công ty SR có xác lập giao dịch là hợp đồng mua bán hàng hóa theo Điều 24 Luật Thương mại. Hình thức hợp đồng là đặt hàng qua gọi điện thoại (bằng lời nói), sau đó công ty NT đã giao hàng cho công ty SR. Tổng giá trị hàng hóa là 68.2000.000 đồng, công ty NT yêu cầu công ty SR thanh toán số tiền trên là có căn cứ. Bị đơn vắng mặt không cung cấp tài liệu chứng cứ về việc đã thanh toán tiền mua bán hàng hóa cho nguyên đơn hay chưa. Hội đồng xét xử căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về việc rút yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi chậm trả theo lãi suất 0,75%/tháng. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút lại yêu cầu trả lãi nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này.

Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 30, 35, 39, 147, 207, 217, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 24, 34, 35, 50 Luật Thương mại.

Căn cứ Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty TNHH NT về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa với công ty TNHH Sản xuất thương mại SR.

Buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại SR có nghĩa vụ thanh toán cho công ty TNHH NT số tiền nợ mua bán hàng hóa là 68.200.000 đồng.

Trường hợp bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của công ty TNHH NT về yêu cầu công ty TNHH Sản xuất thương mại SR trả lãi theo lãi suất 0,75%/tháng.

3. Về án phí: Công ty TNHH NT không phải chịu án phí, hoàn trả cho công ty TNHH NT số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.000.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0003472 ngày 23/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Công ty TNHH Sản xuất thương mại SR phải chịu 3.410.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ