- Tranh chấp gì? Tranh chấp về mua bán hàng hóa — án kinh doanh thương mại — "Công ty Nam Thành Tranh chấp HĐ mua bán với cty Sheshin Resin"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty TNHH NT về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa với công ty TNHH Sản xuất thương mại SR.
- Căn cứ chính? Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2019/KDTM-ST Ngày: 29- 11 - 2019 V/v tranh chấp: Hợp đồng mua bán hàng hóa. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Tuyết Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Kim Hoa;
2. Ông Nguyễn Thanh Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Kiều Thị Tùng Khương- là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Quý- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2019/TLST- KDTM ngày 26 tháng 8 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2019/QĐXX-ST ngày 25/10/2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 19/2019/QĐST 13/10/2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty TNHH NT.
Địa chỉ trụ sở: khu phố 7, phường BTĐA, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Vĩnh Ph, chức danh giám đốc công ty.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Kim Â, sinh năm 1990. (có mặt)
Địa chỉ: THĐ, Phường 1, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Công ty TNHH Sản xuất thương mại SR.
Địa chỉ trụ sở: Ấp 5, xã ĐHĐ, huyện Đ, tỉnh Long An
Người đại diện: Ông Shen Y, chức danh Giám đốc. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện của công ty TNHH NT và phần trình bày của người đại diện theo ủy quyền như sau:
Công ty TNHH NT yêu cầu Công ty TNHH Sản xuất Thương mại SR phải thanh toán số tiền nợ mua bán hàng hóa (gồm 2000 sản phẩm các loại thùng thiếc, thùng vàng, thùng bóng ấn gọi chung là thùng thiếc) là 68.200.000 đồng và tiền lãi theo lãi suất 0,75%/tháng tạm tính từ 07/5/2019 đến 7/2019 là 1.023.000 đồng.
Tuy nhiên, nay công ty TNHH NT (sau đây viết tắt là công ty NT) chỉ yêu cầu công ty TNHH Sản xuất Thương mại SR (sau đây viết tắt là công ty SR) trả số tiền nợ gốc mua bán hàng hóa 68.200.000 đồng, công ty NT rút lại yêu cầu trả tiền lãi.
Căn cứ khởi kiện:
Từ ngày 01/4/2019 đến tháng 5/2019 công ty NT có bán một số mặt hàng là các loại thùng thiếc (tổng cộng 2000 thùng) cho bị đơn là công ty SR. Sau khi giao hàng, công ty NT đã xuất 02 hóa đơn giá trị gia tăng số 0006623 ngày 07/5/2019 và số 0006599 ngày 29/4/2019. Việc mua bán giữa các bên không ký hợp đồng mà do bị đơn đặt hàng qua điện thoại. Giá mua bán thể hiện qua hóa đơn giá trị gia tăng là 31.000.000 đồng/01 sản phẩm, bao gồm cả thuế giá trị gia tăng thành tiền 68.200.000 đồng (thuế giá trị gia tăng theo 02 hóa đơn ngày 29/4/2019 và ngày 07/5/2019, công ty NT đã nộp thuế cho nhà nước xong).
Việc giao hàng được thực hiện theo phương thức: Tài xế của công ty NT vận chuyển hàng hóa đến giao tại kho của công ty SR tại ấp 5, xã Đức Hòa Đông. Có phiếu xuất kho, do nhân viên của công ty SR ký nhận khi nhận hàng.
Về việc thanh toán tiền: Trước đây các bên đã có giao dịch mua bán hàng hóa qua điện thoại, khi Công ty NT giao hàng cho công ty SR thì hình thức thanh toán là trả tiền mặt trực tiếp (do tài xế xe của công ty NT nhận) hoặc chuyển khoản (thể hiện theo bảng kê giao dịch chuyển khoản qua Ngân hàng ngày 19/4/2019). Tuy nhiên, trong đợt giao hàng theo 04 phiếu xuất kho từ ngày 01/4/2019 đến tháng 5/2019 tương ứng số tiền nợ hàng hóa 68.200.000 đồng thì công ty SR vẫn chưa thanh toán cho công ty NT.
Bị đơn Công ty TNHH Sản xuất Thương mại SR vắng mặt và không có ý kiến trình bày.
Tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được:
Bản sao giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; Giấy ủy quyền của công ty NT; 02 hóa đơn giá trị gia tăng (pho to đối chiếu bản chính); 04 Phiếu xuất kho; Bản tự khai của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn; bảng kê giao dịch chuyển khoản qua ngân hàng giữa của công ty SR với công ty NT; Sổ chi tiết công nợ của công ty NT; Bản tường trình của tài xế công ty NT về việc giao hàng ; Công văn số 224/SKHĐT ngày 11/10/2019 của Sở kế hoạch đầu tư về cung cấp thông tin của công ty SR kèm bản chụp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Từ khi vụ án được thụ lý đến khi xét xử: Thẩm phán, thư ký, người tiến hành tố tụng tại phiên tòa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
Về nội dung: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của công ty NT, căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện công ty NT có giao dịch mua bán hàng hóa với công ty SR, công ty NamThành đã giao hàng 2000 sản phẩm thùng thiếc cho công ty SR thể hiện theo các phiếu xuất kho. Bị đơn công ty SR vắng mặt và không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh. Căn cứ vào tài liệu mà công ty NT cung cấp và tài liệu Tòa án thu thập được, đề nghị Hội động xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty NT.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty TNHH NT khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH Sản xuất thương mại SR phải thanh toán số tiền nợ mua bán hàng hóa. Xét thấy, đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh giữa nguyên đơn và bị đơn đều là tổ chức có đăng ký kinh doanh. Bị đơn có địa chỉ trụ sở tại xã Đức Hòa Đông, huyện Đức Hòa nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 30; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 317 Luật Thương mại thì đây là tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.
Về phạm vi giải quyết vụ án: Công ty NT khởi kiện yêu cầu công ty SR phải thanh toán số tiền nợ mua bán hàng hóa, tại phiên tòa nguyên đơn rút lại yêu cầu trả lãi. Bị đơn vắng mặt, không có yêu cầu phản tố. Căn cứ Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xem xét giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về việc hòa giải và việc xét xử vắng mặt đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải, căn cứ Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án trên thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Do đó Tòa án chỉ tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận Hải khai chứng cứ mà không tiến hành hòa giải. Tòa án đã thực hiện thủ tục cấp, tống đạt văn bản tố tụng là quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là công ty SR nhưng bị đơn vắng mặt, căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Công ty NT yêu cầu Công ty SR phải thanh toán số tiền nợ mua bán hàng hóa là 68.200.000 đồng, công ty NT rút lại yêu cầu trả lãi theo lãi suất 0,75%/tháng tạm tính từ 07/5/2019 đến 7/2019 là 1.023.000 đồng. Bị đơn vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
Xét thấy, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Bị đơn vắng mặt không có ý kiến trình bày, không cung cấp tài liệu chứng cứ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp và tài liệu mà Tòa án thu thập được để giải quyết.
Theo các phiếu xuất kho ngày 01/4/2019, ngày 08/4/2019, ngày 13/4/2019 và ngày 07/5/2019 của công ty NT và phần trình bày xác nhận của ông Lợi Hưng Phước là tài xế xe của công ty NT thể hiện công ty NT đã giao 2000 sản phẩm gọi chung là thùng thiếc cho công ty SR tại ấp 5, xã ĐHĐ, huyện Đ, khi giao hàng có nhân viên của công ty SR ký nhận.
Theo 02 hóa đơn giá trị gia tăng số 0006623 ngày 07/5/2019 và số 0006599 ngày 29/4/2019 thể hiện công ty NT đã bán cho công ty SR 2000 sản phẩm thùng thiếc với giá 31.000.000 đồng/01 sản phẩm. Tổng cộng thành tiền 68.200.000 đồng (bao gồm thuế giá trị gia tăng). Công ty NT đã thực hiện kê khai và nộp thuế cho 02 hóa đơn trên tại kho bạc nhà nước quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ đó có cơ sở xác định giữa công ty NT và công ty SR có xác lập giao dịch là hợp đồng mua bán hàng hóa theo Điều 24 Luật Thương mại. Hình thức hợp đồng là đặt hàng qua gọi điện thoại (bằng lời nói), sau đó công ty NT đã giao hàng cho công ty SR. Tổng giá trị hàng hóa là 68.2000.000 đồng, công ty NT yêu cầu công ty SR thanh toán số tiền trên là có căn cứ. Bị đơn vắng mặt không cung cấp tài liệu chứng cứ về việc đã thanh toán tiền mua bán hàng hóa cho nguyên đơn hay chưa. Hội đồng xét xử căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về việc rút yêu cầu tính lãi của nguyên đơn: Theo đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi chậm trả theo lãi suất 0,75%/tháng. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn rút lại yêu cầu trả lãi nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này.
Về án phí: Căn cứ quy định tại Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Nguyên đơn không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 30, 35, 39, 147, 207, 217, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 24, 34, 35, 50 Luật Thương mại.
Căn cứ Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của công ty TNHH NT về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa với công ty TNHH Sản xuất thương mại SR.
Buộc Công ty TNHH Sản xuất Thương mại SR có nghĩa vụ thanh toán cho công ty TNHH NT số tiền nợ mua bán hàng hóa là 68.200.000 đồng.
Trường hợp bên phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ thì kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của công ty TNHH NT về yêu cầu công ty TNHH Sản xuất thương mại SR trả lãi theo lãi suất 0,75%/tháng.
3. Về án phí: Công ty TNHH NT không phải chịu án phí, hoàn trả cho công ty TNHH NT số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.000.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0003472 ngày 23/8/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa. Công ty TNHH Sản xuất thương mại SR phải chịu 3.410.000 đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Hòa; - Chi cục THADS huyện Đức Hòa; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. Hướng dẫn sử dụng mẫu số 52-DS: Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự. Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Toà án khi xét xử sơ thẩm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án sơ thẩm kèm theo: dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Toà án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội); nếu là Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi Toà án nhân dân tỉnh (thành phố) đó (ví dụ: Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam). dụ: Nếu là bản án giải quyết tranh chấp về dân sự năm 2017 có số 100 thì ghi: “Số:100/2017/DS- ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình năm 2017 có số 108 thì ghi: “Số:108/2017/HNGĐ-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại năm 2017 có số 110 thì ghi: “Số:110/2017/KDTM-ST”; nếu là bản án giải quyết tranh chấp về lao động năm 2017 có số 115 thì ghi: “Số:115/2017/LĐ-ST”). trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày. giải quyết được quy định tại Điều, khoản nào của Bộ luật tố tụng dân sự, để ghi vào phần trích yếu của bản án (ví dụ: Tranh chấp mà Tòa án thụ lý giải quyết là tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ghi: “tranh chấp về quốc tịch Việt Nam giữa cá nhân với cá nhân”). (5) Ghi như hướng dẫn tại điểm (1). toà, bỏ dòng “Thẩm phán...”, đối với Hội thẩm nhân dân chỉ ghi họ tên của hai Hội thẩm nhân dân; nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân. Cần chú ý là không ghi chức vụ của Thẩm phán; chức vụ, nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân. nào như hướng dẫn tại điểm (1). song đổi các chữ “Toà án nhân dân” thành “Viện kiểm sát nhân dân”. dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi “Trong các ngày” (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi: “Từ ngày đến ngày” (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017). (10) Nếu xét xử kín thì thay cụm từ “công khai” bằng từ “kín”. thì ghi “DS”; nếu là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì ghi “HNGĐ”; nếu là tranh chấp về kinh doanh, thương mại thì ghi “KDTM”; nếu là tranh chấp về lao động thì ghi “LĐ” (ví dụ: số 18/2017/TLST-HNGĐ). (12) Ghi như hướng dẫn tại điểm (4). họ tên ghi ngày, tháng, năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). Nguyên đơn là cơ quan, tổ chức thì ghi tên cơ quan, tổ chức và địa chỉ của cơ quan, tổ chức đó. rõ là người đại diện theo pháp luật hay là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn; nếu là người đại diện theo pháp luật thì cần ghi chú trong ngoặc đơn quan hệ giữa người đó với nguyên đơn; nếu là người đại diện theo uỷ quyền thì cần ghi chú trong ngoặc đơn: “văn bản uỷ quyền ngày... tháng... năm...”. Công ty TNHH Thắng Lợi). uỷ quyền ngày... tháng... năm...). chỉ cư trú (nếu là Luật sư thì ghi là Luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào); nếu có nhiều nguyên đơn thì ghi cụ thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn nào. (16) và (19) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (13). (17) và (20) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (14). (18) và (21) Ghi tương tự như hướng dẫn tại điểm (15). năm sinh và họ tên người đại diện hợp pháp của người chưa thành niên). cư trú). (24) Ghi họ tên, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ cư trú). cầu phản tố, đề nghị của bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của Viện kiểm sát; ghi ngắn gọn, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án; ghi rõ các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh, các tình tiết mà các bên đã thống nhất, không thống nhất; đối với các tình tiết của vụ án mà các bên không thống nhất thì phải ghi rõ lý lẽ, lập luận của từng bên đương sự. pháp luật tố tụng và pháp luật nội dung). Tòa án phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa để phân tích, đánh giá, nhận định đầy đủ, khách quan về chứng cứ và những tình tiết của vụ án; phân tích, viện dẫn những căn cứ pháp luật, án lệ (nếu có) để chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị của đương sự; yêu cầu, đề nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (nếu có); yêu cầu, đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát (nếu có); giải quyết các vấn đề khác có liên quan. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật tố tụng dân sự thì tùy từng trường hợp mà Tòa án phân tích, lập luận về việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng. Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ tự trong dấu [ ]. (27) Tùy từng trường hợp mà ghi rõ các căn cứ pháp luật để ra quyết định. biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó. Đối với trường hợp xét xử sơ thẩm lại vụ án mà bản án, quyết định đã bị hủy một phần hoặc toàn bộ theo quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm thì ghi vấn đề tài sản, nghĩa vụ đã được thi hành (nếu có) theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng bị hủy; trường hợp có quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật tố tụng dân sự thì phải ghi rõ nội dung về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án. đầy đủ chữ ký, ghi rõ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát thì ghi như sau: | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Dƣơng Thị Tuyết Nhung Mẫu bản án sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại (1) Nếu là Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi rõ tên Toà án nhân (2) Ô thứ nhất ghi số bản án, ô thứ hai ghi năm ra bản án, ô thứ ba ghi ký hiệu loại bản án (ví (3) Ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc (4) Ghi quan hệ tranh chấp mà Tòa án giải quyết: Cần xác định tranh chấp mà Tòa án thụ lý (6) Nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi họ tên của Thẩm phán - Chủ toạ phiên (7) Ghi họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án (8) Nếu có Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà thì ghi như hướng dẫn tại điểm (1) (9) Trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ “Trong các” (ví (11) Ô thứ nhất ghi số thụ lý, ô thứ hai ghi năm thụ lý và ô thứ ba nếu là tranh chấp về dân sự (13) Nguyên đơn là cá nhân thì ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau (14) Chỉ ghi khi có người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và ghi họ tên, địa chỉ cư trú; ghi Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A trú tại... là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Ví dụ 2: Bà Lê Thị B trú tại... là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản (15) Chỉ ghi khi có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Ghi họ tên, địa (22) Ghi họ tên, địa chỉ cư trú (nếu là người chưa thành niên thì sau họ tên ghi ngày, tháng, (23) Ghi họ tên, chức danh, địa chỉ nơi làm việc (nếu không có nơi làm việc thì ghi địa chỉ (25) Trong phần này ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu (26) Ghi nhận định của Tòa án về những vấn đề cần phải giải quyết trong vụ án (về áp dụng (28) Ghi các quyết định của Tòa án về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng (29) Phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có |