- Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Hoàng Thị Thu H phạm tội "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức" theo điểm a khoản 3 Điều 341 BLHS - phạm tội làm giả con dấu, tài li…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 B luật hình sự.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2019/HSST Ngày: 29/01/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Luân Văn Lý
2. Bà Vũ Kim Hoa
Thư ký phiên tòa: Bà Mã Thị Hoàng Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tØnh Cao B»ng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2018/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2019/QĐXXST-HS ngày 18/01/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Thị Thu H, tên gọi khác: không; sinh ngày 27/12/1979; nơi sinh: thành phố C; h khẩu thư ng tr : tổ S, phư ng Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; chỗ ở hiện nay: tổ S, phư ng Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; dân t c: tày; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không nghề; trình đ học v n: 12/12 phổ thông; con ông: Hoàng Văn C, sinh năm 1945 (chết 2015); con bà: Viên Thị L, sinh năm 1949, tr tại: tổ S, phư ng Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; anh, chị, em ru t: có 04 anh chị em, bị cáo là con t; chồng: Nông Duy K, sinh năm 1982 (đã ly hôn năm 2015); con: có 01 con sinh năm 2007; tiền sự: không; tiền án: không; có mặt.
Người có quyền lợi liên quan:
1. Đoàn Thị M - sinh năm 1971; tr tại: tổ B, phư ng Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
2. Vũ Văn P - sinh năm 1960; tr tại: tổ B, phư ng S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
3. La Xuân N - sinh năm 1961; tr tại: tổ M, phư ng Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt khi tuyên án.
Người làm chứng:
1. Chi cục thuế thành phố C, tỉnh Cao Bằng
Địa chỉ: 10S đư ng H, phư ng H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện tham gia tố tụng: Bà Nông Thị Lê N - Phó Chi cục trưởng Chi cục thuế thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
2. Hà Minh H - sinh năm 1987; tr tại: tổ M, phư ng Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
3. Vũ Thị T A - sinh năm 1986; tr tại: tổ C, phư ng S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 7/2017 bà Đoàn Thị M (sinh 1971, tr tại tổ B, phư ng Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) mua với ông Hoàng D (sinh 1949, tr tại tổ B, phư ng Đ, thành phố C) m t mảnh đ t nông nghiệp 400m2 tại gi y Chứng nhận quyền sử dụng đ t số 0 443237 do Ủy ban nhân dân huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng c p ngày 09/12/1999 thửa đ t số 259; 260; 261, t bản đồ số 06; địa chỉ đ t tại tổ B, phư ng Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng và hai bên có thỏa thuận ngư i mua tự làm thủ tục gi y t chuyển quyền sử dụng đ t và chuyển đổi mục đích sử dụng đ t, nên bà M đã nh Hoàng Thị Thu H làm thủ tục mua bán và chuyển mục đích đ t nông nghiệp sang đ t ở đô thị với 03 thửa đ t bà M mua với ông D. H nh t trí. Đến tháng 09/2017 nhận được thông báo n p thuế tiền sử dụng đ t của Chi cục thuế thành phố Cao Bằng đối với 03 thửa đ t trên với số tiền là: 253.356.000đ (hai trăm năm mươi ba triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn đồng). Ngày 27/9/2017, bà M và H đến Ngân hàng TMCP C chi nhánh Cao Bằng n p tiền, bà M đưa cho H số tiền 100.000.000đ (m t trăm triệu đồng) và ký vào gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước đưa cho H để H bù thêm số tiền 153.356.000đ để n p tiền (vì 02 ngư i đã thỏa thuận trước số tiền còn lại bà M sẽ đưa cho H sau). Trong khi ch đến lượt n p tiền, H xem lại hồ sơ th y không hợp lý, vì vị trí chuyển đổi không đ ng (H đã từng làm việc tại Văn phòng đăng ký đ t đai chi nhánh thành phố C nên biết), nên đã đem hồ sơ quay lại b phận m t cửa của Phòng tài nguyên môi trư ng thành phố C để xin đính chính hồ sơ vị trí chuyển đổi gần đư ng (việc này H không thông báo cho ông Hoàng D và bà Đoàn Thị M biết vì nghĩ sẽ đính chính hồ sơ được ngay). Số tiền còn thiếu sau này bà M đã đưa đủ cho H. H đã sử dụng vào mục đích cá nhân hết.
Đến cuối tháng 05/2018 H nhận được hồ sơ của ông Hoàng D đã đính chính xong bao gồm 03 quyết định: quyết định 1013 ngày 18/5/2018 đối với thửa đ t số 259; quyết định 1005 ngày 17/5/2018 đối với thửa số 260; quyết định số 1015 ngày 18/05/2018 đối với thửa số 261. Với tổng tiền phải n p là 213.954.450đ (hai trăm mư i ba triệu chín trăm năm mươi tư nghìn bốn trăm năm mươi đồng). H chuyển 03 b hồ sơ đến Chi cục thuế thành phố C làm thủ tục kê khai n p thuế. Đến đầu tháng 07/2018 H nhận được thông báo n p tiền sử dụng đ t của Chi cục thuế. Do chưa có tiền n p nên ngày 15/7/2018 H đã làm giả 03 gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước đều nghi ngày 16/7/2018 bằng cách: L y t gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước có sẵn tự điền thông tin vào gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước theo thông báo n p tiền của Chi cục thuế thành phố, sau đó l y bản phô tô gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước đã có sẵn, cắt l y phần d u đã thu tiền và cắt phần d u và chữ ký của kế toán Ngân hàng TMCP C chi nhánh Cao Bằng dán vào gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước vừa điền thông tin, rồi đi phô tô mang đến Chi cục thuế l y hồ sơ mang lên b phận m t cửa của Phòng tài nguyên môi trư ng thành phố Cao Bằng để n p và r t toàn b hồ sơ n p tại b phận m t cửa của Văn phòng đăng ký đ t đai chi nhánh thành phố Cao Bằng để làm thủ tục chuyển đổi mục đích trên gi y chứng nhận của ông Hoàng D.
Đến giữa tháng 07/2018 bà Đoàn Thị M gọi điện thoại cho H nhiều lần hỏi về việc bà nh hoàn thiện hồ sơ sao lâu chưa được. Do chưa có tiền n p vào ngân sách nhà nước và trước sự đốc th c của bà M nên H đã l y gi y n p tiền ngày 27/9/2017 của bà M ký trước đó chưa n p tiền H giữ để nhà mang ra điền thông tin và cắt dán với hình thức như trên được m t gi y n p tiền giả ghi số tiền 253.356.000đ và đưa cho bà M nói là đã n p tiền và ch làm thủ tục.
Trong khoảng th i gian ch l y hồ sơ của ông Hoàng D, H đã tiếp tục làm 03 b hồ sơ chuyển đổi mục đích đ t như sau:
B thứ nh t: vào khoảng tháng 5/2018, ông Vũ Văn P (sinh 1960, tr tại tổ B, phư ng S, thành phố C) nh H đến Chi cục thuế thành phố C để làm thủ tục kê khai tiền chuyển đổi mục đích sử dụng đ t, ông P đưa cho H phiếu chuyển đổi thông tin và Quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng đ t số 952, ngày 14/5/2018 của UBND thành phố C về việc cho phép chuyển đổi mục đích sử dụng đ t từ đ t trồng l a sang đ t ở đô thị tổng số 150 m2 tại thửa đ t số 252a và 253a t bản đồ số C, địa chỉ đ t tại tổ T, phư ng S, thành phố C (vì ông P nói với H là ông mắt kém nên nh làm gi p, không hứa hẹn trả công do có mối quan hệ quen biết từ trước). H nh t trí đến Chi cục thuế thành phố C kê khai và n p hồ sơ. Hai bên thỏa thuận H ứng tiền ra n p cho ông P trước, ông P trả lại tiền cho H sau. Đến ngày 06/6/2018 thì nhận thông báo n p tiền sử dụng đ t với số tiền phải n p là 66.420.000đ (sáu mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng). H đến l y thông báo, do chưa có tiền n p nên đã ra quán nước giải khát ở tổ B, phư ng S, thành phố C; l y m t t gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước có sẵn mang theo và tự điền thông tin và cắt, dán làm gi y n p tiền giả như trên nghi ngày 06/6/2018 rồi đi phô tô mang đến Chi cục thuế thành phố C l y hồ sơ mang đến b phận m t cửa của Phòng Tài nguyên môi trư ng thành phố C n p để r t toàn b hồ sơ mang đến Văn phòng đăng ký đ t đai chi nhánh thành phố C n p hoàn thành thủ tục. Sau đó, H đem Gi y n p tiền nghi ngày 06/6/2018 đến nhà đưa cho ông P và ông P đưa lại cho H số tiền 66.420.000đ (sáu mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng).
Văn phòng đăng ký đ t đai chi nhánh thành phố Cao Bằng đã ký xác nhận chuyển đổi mục đích sử dụng đ t từ đ t trồng l a sang đ t ở đô thị và đã trả gi y chứng nhận quyền sử dụng đ t cho ông Vũ Văn P.
B thứ hai: đầu năm 2018 ông La Xuân N (sinh 1961, tr tại tổ M, phư ng Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) nh H đi làm thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đ t vư n sang đ t ở đô thị, gi y chứng nhận đăng ký quyền sử dụng đ t số 00620 do UBND huyện H, tỉnh Cao Bằng c p c p ngày 09/12/1999 chuyển đổi mục đích sử dụng đ t với diện tích là 160m2. Sau khi nhận được hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đ t. H chuyển hồ sơ đến Chi cục thuế thành phố C kê khai n p thuế. Đến ngày 20/6/2018 thì nhận thông báo n p tiền sử dụng đ t với số tiền phải n p là 87.360.000đ.
Vụ thứ ba: tháng 4/2018 bị cáo Hoàng Thị Thu H mua đ t nông nghiệp với ông Hoàng Văn L và vợ Hoàng Thị L (tr tại tổ S, Phư ng Đ, thành phố C) diện tích là 73,6m2 với giá cả thỏa thuận. Hoàn t t thủ tục chuyển nhượng, H n p hồ sơ đến b phận 01 cửa của Phòng tài nguyên môi trư ng thành phố C để chuyển mục đích sử dụng đ t nông nghiệp sang đ t ở. Đến đầu tháng 6/2018 nhận được hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đ t, H mang đến Chi cục thuế thành phố C làm thủ tục kê khai n p thuế, đến ngày 11/6/2018 nhận thông báo n p tiền sử dụng đ t số tiền 56.120.000đ (năm mươi sáu triệu m t trăm hai mươi nghìn đồng).
Do chưa có tiền n p nên ngày 15/7/2018 H tiếp tục làm thêm 02 t gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước giả với hình thức như trên đều ghi ngày 16/7/2018, ngư i n p là La Xuân N, Hoàng Thị Thu H. Đến chiều ngày 16/7/2018 H đến Chi cục thuế thành phố C n p 02 t gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước giả l y hồ sơ. B hồ sơ của ông La Xuân N H đưa cho ông N giữ, còn b của H vẫn để ở nhà.
Sau khi chuẩn bị được tiền H đã đi n p tiền vào Ngân sách nhà nước cụ thể:
Ngày 17,18/7/2018 và ngày 06/8/2018 H đã đến Ngân hàng TMCP C chi nhánh Cao Bằng n p tiền vào ngân sách nhà nước đối với 03 b hồ sơ của ông D với tổng số tiền là 213.954.450đ (hai trăm mư i ba triệu chín trăm năm mươi tư nghìn bốn trăm năm mươi đồng); và hồ sơ của ông Vũ Văn P với số tiền 66.420.000đ (sáu mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng). Số tiền bà M đưa cho H còn thừa H đã trả lại đầy đủ cho bà M.
Ngày 27/7/2018 H gọi điện thoại cho ông N để đưa tiền cho ông N đi n p thuế (do H và ông N thỏa thuận H bỏ tiền ra trước, ông N sẽ trả H sau), cùng ngày ông N đến Ngân hàng TMCP C chi nhánh Cao Bằng n p 87.451.728đ (tám mươi bảy triệu bốn trăm năm mươi mốt nghìn bảy trăm hai tám đồng). Vài ngày sau đó, ông N đã trả lại cho H số tiền 87.451.728đ.
Đối với hồ sơ của Hoàng Thị Thu H: ngày 24/12/2018 bị cáo H chuẩn bị được tiền nên đã n p số tiền 56.120.000đ vào ngân sách nhà nước.
Hành vi làm giả 07 t gi y tiền n p vào ngân sách nhà nước của Hoàng Thị Thu H (trong đó có 01 t đưa cho bà M; 06 t cho vào 06 b hồ sơ) đã bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố về t i Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 3 Điều 341 B luật hình sự năm 2015.
Tại bản Cáo trạng số 105/CT-VKSTP ngày 30/11/2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Hoàng Thị Thu H vÒ téi "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức" được quy định tại khoản 3 Điều 341 B luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Thị Thu H thừa nhận hành vi phạm t i của mình đ ng như n i dung bản Cáo trạng đã truy tố. L i khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với l i khai tại cơ quan điều tra và l i khai của ngư i có quyền lợi liên quan, l i khai của ngư i làm chứng. Bị cáo khẳng định 07 gi y n p tiền trên là giả và do m t mình bị cáo làm ra. Tại th i điểm làm gi y n p tiền giả bị cáo đã lỡ tiêu hết tiền nên không có tiền n p ngay, bị cáo sợ hết hạn n p tiền nên mới làm gi y n p tiền giả, bản thân bị cáo hoàn toàn không có ý thức chiếm đoạt tiền của những ngư i liên quan trong vụ án vì bị cáo biết khi cơ quan thuế tra soát các khoản thu n p với cơ quan kho bạc nhà nước, ngân hàng sẽ phát hiện ra ngay. Về vật chứng của vụ án: hồ sơ của Hoàng Thị Thu H bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng thu giữ, H đề nghị được trả lại.
Ông Vũ Văn P, bà Đoàn Thị M và ngư i làm chứng Hà Minh H, Vũ Thị T A đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có l i khai đầy đủ tại cơ quan điều tra và đã có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ông La Xuân N xác nhận l i khai của bị cáo H tại phiên tòa là đ ng, ông xác nhận việc bị cáo đưa cho ông số tiền 87.451.728đ vào ngày 27/7/2018 để ông đi n p thuế, do l c n p thuế ông chưa chuẩn bị được tiền, số tiền này ông đã trả lại đầy đủ cho bị cáo H.
Bà Nông Thị Lê N cho biết theo quy định của pháp luật cơ quan thuế có trách nhiệm tra soát các khoản thu n p ngân sách nhà nước như bị cáo H trình bày, nếu có khoản nào không n p thì sẽ phát hiện ra. Số tiền ghi trên các gi y n p tiền không có trên hệ thống nên khẳng định 07 gi y n p tiền này là giả.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị H i đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341, điểm b, h, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 B luật hình sự, tuyên bố bị cáo Hoàng Thị Thu H phạm t i "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức". Đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Thị Thu H 36 tháng tù cho hưởng án treo, th i gian thử thách là 60 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Về xử lý vật chứng: trả lại hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đ t của Hoàng Thị Thu H cho bị cáo.
Tại phần tranh luận, bị cáo, ông La Xuân N không có ý kiến tranh luận với l i luận t i của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng. Khi được nói l i sau cùng, bị cáo đề nghị H i đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nh t.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, H i đồng xét xử xét th y như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về t i danh: căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và l i khai của bị cáo tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định: trong khoảng th i gian từ tháng 6/2018 đến cuối tháng 7/2018 Hoàng Thị Thu H đã làm giả 07 t gi y tiền n p vào ngân sách nhà nước bằng hình thức l y m t t gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước có sẵn tự điền thông tin vào gi y n p tiền, sau đó l y bản phô tô gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước đã có sẵn, cắt l y phần d u đã thu tiền và cắt l y d u và chữ ký của kế toán Ngân hàng TMCP C Chi nhánh Cao Bằng dán vào gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước H vừa điền thông tin, sau đó đi phô tô thành gi y n p tiền giả, cụ thể:
- 01 gi y t gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước ghi ngày 27/9/2017 ngư i n p Hoàng D, địa chỉ tổ B, phư ng Đ, thành phố C, số tiền n p 253.356.000đ (hai trăm năm mươi ba triệu ba trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
- 01 gi y t gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước nghi ngày 06/6/2018 ngư i n p Vũ Văn P - Phùng Thị H, địa chỉ tổ B, phư ng S, thành phố C số tiền n p 66.420.000đ (sáu mươi sáu triệu bốn trăm hai mươi nghìn đồng).
- 03 gi y t gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước đều nghi ngày 16/7/2018 ngư i n p Hoàng D, địa chỉ tổ B, phư ng Đ, thành phố C, tổng số tiền n p của 3 gi y n p tiền là 213.954.450đ (hai trăm mư i ba triệu chín trăm năm mươi tư nghìn bốn trăm năm mươi đồng).
- 01 gi y t gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước nghi ngày 16/7/2018 ngư i n p La Xuân N, địa chỉ tổ M, phư ng Đ, thành phố C, số tiền phải n p là 87.360.000đ (tám mươi bảy triệu ba trăm sáu mươi nghìn đồng).
- 01 gi y t gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước nghi ngày 16/7/2018 ngư i n p Hoàng Thị Thu H, địa chỉ tổ S, phư ng Đ, thành phố C, số tiền n p là 56.120.000đ (năm mươi sáu triệu m t trăm hai mươi nghìn đồng).
Bị cáo Hoàng Thị Thu H đã mang 04 b hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đ t đai Chi nhánh thành phố C để hoàn thiện hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đ t, trong đó 03 b của ông Hoàng D, 01 b của ông Vũ Văn P, Văn phòng đăng ký đ t đai Chi nhánh thành phố C đã ký xác nhận chuyển đổi mục đích sử dụng đ t từ đ t trồng l a sang đ t ở đô thị.
Sau khi chuẩn bị được tiền từ ngày 17/7/2018 đến ngày 06/8/2018 H đã đến Ngân hàng TMCP C Chi nhánh Cao Bằng n p tiền vào ngân sách nhà nước đối với 03 b hồ sơ của ông Hoàng D và 01 hồ sơ của ông Vũ Văn P.
Còn 01 b hồ sơ của ông La Xuân N sau khi l y hồ sơ từ Chi cục thuế thành phố C, H đưa lại hồ sơ cho ông N, đến ngày 27/7/2018 H đưa cho ông N số tiền 87.451.728 đồng để ông N đi n p thuế. Số tiền này ông N đã trả lại cho H.
Hồ sơ của Hoàng Thị Thu H, sau khi r t hồ sơ từ Chi cục Thuế thành phố C, do chưa có tiền n p thuế nên H để hồ sơ ở nhà, đến ngày 24/12/2018 H chuẩn bị được tiền nên đã n p số tiền 56.120.000đ vào ngân sách nhà nước.
Hành vi của bị cáo xâm phạm đến sự hoạt đ ng bình thư ng của cơ quan tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về tài liệu. Bị cáo có trình đ học v n lớp 12/12 phổ thông, là ngư i có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã h i và vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố c u thành t i “làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điều 341 B luật hình sự.
Về tình tiết định khung: bị cáo làm 07 gi y n p tiền giả nên hành vi của bị cáo thu c trư ng hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 B luật hình sự.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm t i của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là "Người phạm tội thành khẩn khai báo" quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 B luật hình sự.
Trong quá trình điều tra bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, khi bị phát hiện hành vi phạm t i bị cáo đã chủ đ ng khai ra các gi y n p tiền giả, mặc dù sau khi rà soát cơ quan thuế chưa phát hiện ra gi y n p tiền giả trong hồ sơ ông Vũ Văn P nhưng bị cáo đã tự nguyện khai báo, do đó bị cáo được hưởng thêm m t tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 B luật hình sự.
Ngoài ra, bị cáo có mẹ đẻ là Viên Thị L được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng II nên bị cáo được hưởng thêm m t tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 B luật hình sự.
Hành vi của bị cáo xâm phạm đến sự hoạt đ ng bình thư ng của cơ quan tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước về tài liệu. Do đó, không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, h khoản 1 Điều 51 B luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: hành vi làm 07 gi y n p tiền giả của bị cáo đã bị áp dụng tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 B luật hình sự nên không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm t i từ 2 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 B luật hình sự.
Về hình phạt: h i đồng xét xử xét th y mức đề nghị hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đối với bị cáo hoàn toàn phù hợp, tương xứng với tính ch t, mức đ hành vi phạm t i của bị cáo.
Hành vi làm 07 gi y n p tiền giả đã bị áp dụng tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 B luật hình sự, không áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm t i từ 2 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 B luật hình sự nên bị cáo không thu c trư ng hợp quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của H i đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư tr rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo đã ly hôn năm 2015, hiện nay đang nuôi con nhỏ nên H i đồng xét xử th y bị cáo có khả năng tự cải tạo, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã h i, việc áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo theo quy định tại Điều 65 B luật hình sự cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung, đồng th i cũng thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
Về hình phạt bổ sung: ngoài hình phạt chính, theo khoản 4 Điều 341 B luật hình sự bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét th y bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và tài sản:
Đối với hồ sơ của ông Hoàng D, Công an thành phố Cao Bằng đã tạm giữ để điều tra và chuyển theo hồ sơ vụ án. Xét th y hồ sơ của ông Hoàng D đã hoàn thiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà Nước, không ảnh hưởng đến việc truy tố xét xử nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đã trả cho ông Hoàng D.
Số tài liệu tạm giữ của bị cáo Hoàng Thị Thu H chuyển theo hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa bị cáo H xin được trả lại số tài liệu này. H i đồng xét xử xét th y bị cáo H đã thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước, do đó, cần chập nhận yêu cầu của bị cáo.
Về các v n đề khác:
Hành vi của bị cáo H thực hiện được là do cán b Chi cục thuế thành phố Cao Bằng là Hà Minh H (sinh 1987, tr tại tổ M, phư ng Đ, thành phố C) và cán b Văn phòng đăng ký đ t đai Chi nhánh thành phố C là Vũ Thị T A (sinh 1986; tr tại tổ C, phư ng S, thành phố C) khi thực hiện nhiệm vụ không tuân thủ đ ng quy tắc nghề nghiệp, không tuân thủ đ ng kỷ luật, quy trình làm việc nên H mới thực hiện trót lọt hành vi phạm t i. Cụ thể khi H mang gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước đến n p, thì H và T A khi tiếp nhận gi y n p tiền vào ngân sách nhà nước cần phải đối chiếu với bản gốc, nhưng do tin tưởng nên đã ch p nhận và hoàn thiện hồ sơ cho H. Hành vi trên chưa đủ yếu tố c u thành t i Thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Do vậy, đề nghị cơ quan chủ quản có hình thức xử lý vi phạm đối với Hà Minh H và Vũ Thị T A theo quy định của pháp luật.
Trong th i gian ch để gi p ngư i khác hoàn thiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đ t, H đã sử dụng số tiền trên vào việc sửa chữa nhà cửa. Số tiền này H đã n p hết vào ngân sách nhà nước. Tại phiên tòa H khẳng định không có mục đích chiếm đoạt số tiền này vì H biết hàng tháng Chi cục Thuế thành phố C và Kho bạc nhà nước, Ngân hàng TMCP C chi nhánh Cao Bằng phải tra soát tiền n p ngân sách nhà nước nên sẽ bị phát hiện. Do vậy, hành vi của H không đủ yếu tố c u thành t i lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, t i lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174, 175 B luật hình sự, nên không có căn cứ để xử lý về hành vi trên.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo, ngư i có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Áp dụng: điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 B luật hình sự.
Tuyên bố: bị cáo Hoàng Thị Thu H phạm t i "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức".
Xử phạt: bị cáo Hoàng Thị Thu H 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, th i gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/01/2019).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phư ng Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng giám sát, giáo dục trong th i gian thử thách. Trư ng hợp ngư i được hưởng án treo thay đổi nơi cư tr thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong th i gian thử thách, ngư i được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định bu c ngư i được hưởng án treo phải ch p hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng và tài sản:
Áp dụng khoản 3 Điều 106 B luật tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo:
- 01 bản chính Thông báo n p tiền sử dụng đ t ngày 11/6/2018.
- 01 bản phô tô t khai tiền sử dụng đ t ngày 21/5/2018;
- 01 Quyết định về việc giảm tiền sử dụng đ t đối với h gia đình, cá nhân số 271/QĐ-CCT ngày 11/6/2018.
Xác nhận Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã tạm giữ theo biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu ngày 31/7/2018 và chuyển theo hồ sơ vụ án.
3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135 B luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, n p, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử bu c bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngư i có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: -Tòa án tỉnh Cao Bằng; - Công an tỉnh Cao Bằng; - Viện kiểm sát TP Cao Bằng; - Công an TP Cao Bằng; - Thi hành án DS TP Cao Bằng; - Bị cáo; - Ngư i có QLLQ; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Hoài Phƣơng |