vanban.org

Bản án 21/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 06/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Tuyên phạt bị cáo Trần Thị Tr 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trần Thị Tr cho Ủy ban nhân dân xã Sơn Ng, huyện Sơn H, tỉnh Phú Yên nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Trầ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần T Tr phạm tội cố ý gây thương tích đối với bị hại Nguyễn Thị Bội Nh - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN H
TỈNH PHÚ YÊN
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2019/HSST
Ngày : 06/8/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN HOÀ, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Văn Hùng;

2. Ông Nguyễn Thái Bình.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Tân, Thư ký TAND huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Hoà tham gia phiên tòa: Ông Hoàng văn Đại, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Hoà, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2019/TLST-HS ngày 15/7/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2019/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2019, đối với bị cáo:

Trần Thị Tr, sinh năm: 1973; Nơi sinh: Thừa Thiên H; ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Nguyên Tr, xã Sơn Ng, huyện Sơn H, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; Tôn giáo: không; con ông: Trần Lập (đã chết) và bà Trần Thị Á, sinh 1941; Bị cáo có 07 anh chị em; Chồng: Biện Phước Th, sinh năm: 1971; Bị cáo có 02 con, con lớn, sinh năm: 1995, con nhỏ, sinh năm: 1999; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/3/2019 đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Bội Nh, sinh năm: 1981. Có mặt.

Trú tại: Thôn Ngân Đ, xã Sơn H, huyện Sơn H, tỉnh Phú Yên.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trần Thị H, sinh năm: 1975. Có mặt.

2. Ông Võ Văn N, sinh năm: 1974; Có mặt.

3. Ông Nguyễn Hữu D, sinh năm: 1975. Có mặt.

Đều trú tại: Thôn Ngân Đ, xã Sơn H, huyện Sơn H, tỉnh Phú Yên.

4. Bà Võ Thị Hồng M, sinh 1976. Có mặt.

Trú tại: Thôn Hòa S, xã Sơn H, huyện Sơn H, tỉnh Phú Yên.

+ Người làm chứng: Bà Cao Thị Ánh T, sinh năm: 1965; vắng mặt.

Trú tại: Khu phố Bắc L, thị trấn Củng S, huyện Sơn H, tỉnh Phú Yên.

NHẬN THẤY:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có mâu thuẫn từ trước, Sáng ngày 15/11/2018 Trần Thị H rủ Trần Thị Tr (chị của H), Võ Thị Hồng M đến chợ Sơn H, tại khu phố Trung H, thị trấn Củng S, huyện Sơn H, tỉnh Phú Yên để chửi cảnh cáo Nguyễn Thị Bội Nh, Tr và M đồng ý. Khoảng 09 giờ ngày 15/11/2018 Trúc điều khiển xe mô tô BKS 78L1- 046.83, M điều khiển xe mô tô BKS 78L1- 143-90 chở H cùng đến chợ Sơn H. Khi đi H cầm theo 02 chà gai mắc mỉu dài khoảng 50cm, đường kính khoảng 01cm để ở trước xe, nhằm mục đích để phòng thân. Tr, H và M cùng đến sạp bán hàng của Nh. H chửi Nh: Con kia mày giật chồng tao, mày đưa chồng tao vào nhà nghỉ Ngọc Ánh và nhà nghỉ ở Tuy Hòa, mày xin lỗi tao nhiều lần rồi mà mày không dừng lại, M cũng lên tiếng chửi Nh: Con kia chơi với nhau mà giật chồng nhau, Nh trả lời: Vậy thì sao. Nghe Nh nói vậy thì sao, Tr bục tức nên nhặt một đoạn cây gỗ có đường kính khoảng 2,5cm dài khoảng 70cm ở gần sạp của Nh và nói: Mày trai gái với chồng nó mà mày còn có thái độ đó là sao, Nh nói: Vậy thì sao, nghe vậy Tr dùng đoạn cây vừa nhặt đánh vào đầu Nh một cái. Nh lấy một con dao (loại dao Thái Lan) thì Trđánh tiếp một cái trúng vào đầu Nh rồi thách Nh đâm Tr, sợ bị Tr đánh tiếp nên Nh cầm dao bỏ chạy thì bị vấp ngã, gây ra thương tích ở môi trên. Sự việc xảy ra ông Nguyễn Hữu D (chồng của Nhung) đưa Nh đi cấp cứu điều trị tại bệnh viện huyện Sơn H và bệnh viện tỉnh Phú Yên.

Ngày 16/11/2018 chị Nguyễn Thị Bội Nh có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Trần Thị Tr.

Tại bản giám định Pháp y số 375/TgT ngày 7/12/2018 và công văn số 47 ngày 27/12/2018 của Trung tâm giám định Pháp y tỉnh Phú Yên kết luận: Nguyễn Thị Bội Nh bị thương tích tỷ lệ 10%.

Vật chứng vụ án: Đã có quyết định truy tìm vật chúng nhưng không tìm được.

Về dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Bội Nh yêu cầu bị cáo Trần Thị Tr bồi thường tổng các khoản chi phí điều trị thương tích, tiền công lao động của người bệnh trong những ngày nằm viện, tiền hàng hóa bị hư hỏng và tiền tổn thất tinh thần tổng cộng: 34.868.585 đồng.

Bị cáo Tr đã tự nguyện bồi thường trước 10.000.000đ cho bị hại, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn H, tỉnh Phú Yên.

Cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 24/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn H truy tố Trần Thị Tr về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nh yêu cầu bị cáo Tr bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm tổng các khoản: Tiền thuốc điều trị tại 2 bệnh viện là 1.518.585 đồng, tiền chi phí thẩm mỹ môi trên 6.500.000 đồng, tiền công lao động trong những ngày nằm viện 15 ngày x 300.000 đồng = 4.500.000 đồng, tiền tài sản bị hư hỏng là 1.500.000 đồng và tiền tổn thất tinh thần là 15 tháng lương cơ bản là 20.850.000 đồng. Tổng cộng số tiền là 34.868.585 đồng, bị cáo đề nghị HĐXX xét xử xem xét những chứng từ hợp lý thì thống nhất bồi thường cho người bị hại. Bị cáo đã khác phục trước 10.000.000 đồng.

Về hình phạt: Bị hại Nh đề nghị HĐXX xử bị cáo theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả do bị cáo gây ra, tình tiết định khung, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình phạt đối với bị cáo, giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố, đề nghị HĐXX:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của BLHS đối với bị cáo Tr về tội “Cố ý gây thương tích” để xử phạt bị cáo Trần Thị Tr mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, giao bị cáo Trúc cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giao dục trong thời gian thử thách.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại Nguyễn Thị Bội Nh yêu cầu bị cáo phải bồi thường tổng cộng các khoản do sức khỏe bị xâm hại là 34.868.585 đồng. Tổng số tiền hợp lý gồm: Tiền chi phí diều trị tại hai bệnh viện là: 1.518.000 đồng; tiền công lao động trong những ngày nằm viện là (15 ngày x 300.000đ/ngày = 4.500.000 đồng) và tiền tổn thất tinh thần là 03 tháng x 1.490.000 đồng = 4.470.000 đồng. Tổng cộng là: 10.488.000 đồng. bác hai khoản gồm tiền thẩm mỹ 6.500.000 đồng và 1.500.000 đồng tiền hư hỏng đồ đạc do không có chúng từ. Bị cáo Trúc đã tự nguyện khắc phục 10.000.000 đồng. Căn cứ vào các Điều 48 BLHS, Điều 584, 585 và 590 BLDS buộc bị cáo phải bồi thường chị bị hại.

Về xử lý vật chứng: Do không thu được nên không xem xét.

Đối với Trần Thị H đã rủ Trần Thị Tr và Võ Thị Hồng M đến chợ Sơn H với mục đích là để chửi cảnh cáo Nguyễn Thị Bội Nh về việc Nh có quan hệ nam nữ bất chính với Võ Văn N (chồng của Huệ). Việc Tr gây thương tích cho Nh là ngoài giới hạn của H. H và M không trực tiếp gây thương tích cho Nh nên H và M không đồng phạm với Tr về hành vi Tr gây thương tích cho Nh. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn H và bản Cáo trạng của Viện KSND huyện Sơn H không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Trần Thị H và Võ Thị Hồng M nên HĐXX không xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Tr không tranh luận gì với Kiểm sát viên.

Người bị hại tranh luận với đại diện kiểm sát viên thống nhất hình phạt mà viện kiểm sát đề nghị, về phần dân sự vẫn giữ nguyên yêu cầu bị cáo bồi thường 34. 686.000 đồng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận hành vi phạm tội và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện cải tạo, hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử trong vụ án được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về vấn đề này. Ngày 27/06/2019 HDXX đã có quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung vấn đề có hay không việc bị cáo dùng dao gây thương tích cho người bị hại; vết thương trên môi bị hại do dao hay vật gì gây ra và cho đối chất. Ngày 12/7/2019 Viện KSND huyện Sơn H có văn bản số 292/VKS-HS giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng số 12 đã truy tố. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng trong phạm vi xét xử đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thị Tr tại phiên toà phù hợp với các giấy chứng nhận thương tích, kết luận giám định pháp số 375/TgT ngày 7/12/2018 và công văn số 47 ngày 27/12/2018 của Trung tâm giám định Pháp y tỉnh Phú Yên, vật chứng vụ án, lời khai của bị hại, người làm chứng, các chứng cứ, tài liệu thu thập được có tại hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận:

Do có mâu thuẫn của vợ chồng em gái với bị hại Nh, nên khoảng 09 giờ ngày 15/11/2018 tại khu vực chợ Sơn H thuộc khu phố Trung H, thị trấn Củng S, huyện Sơn H, tỉnh Phú Yên, bị cáo Trần Thị Trúc đã dùng đoạn cây gỗ dài 70 cm, đường kính 2,5 cm đánh vào đầu bị hại Nh 2 cái, sợ Tr tiếp tục cầm cây đánh nên Nh cầm dao bỏ chạy thì bị vấp ngã gây ra thương tích ở môi trên. Tỷ lệ thương tích ở đầu và môi trên là 10%. Người bị hại có đơn yêu cầu khởi tố. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn H, tỉnh Phú Yên đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bị cáo Tr là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, chỉ vì một mâu thuẫn của vợ chồng em gái mình với người bị hại mà bị cáo đã dùng cây gỗ đánh 02 cái vào đầu người bị hại. Hành vi của bị cáo là nguy đã gây thương tích cho người bị hại trái pháp luật, gây mất trật tự trị an trên địa bàn khu dân cư, nên cần xử bị cáo mức án nghiêm, để làm gương. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành thật khai báo, bị cáo ăn năn hối cải và đã khắc phục phần hậu quả gây ra, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo là nữ có nhân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, Điều 51 BLHS;

Bị cáo Tr có nhiều tình giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của BLHS, không có tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 52 BLHS xét không cần thiết phải cách ly bị cáo mà cho bị được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 34.868.500 đồng về các khoản thiệt hại sức khỏe do bị xâm phạm. Số tiền chi phí hợp lý được HĐXX chấp nhận như sau:

Tiền chi phí diều trị tại hai bệnh viện là: 1.518.000 đồng;

Tiền công lao động trong những ngày nằm viện là (15 ngày x 200.000đ/ngày = 3.00.000 đồng) tính theo công lao động phổ thông;

Tiền hư hỏng tài sản 1.500.000 đồng, xét thầy tiệt hại là có xảy ra trong khi xô sát nhưng không có chúng từ nên HĐXX chấp nhận cho 2/3 là có cơ sở là 1.000.000 đồng;

Tiền tổn thất tinh thần là 03 tháng x 1.490.000 đồng = 4.470.000 đồng, do tỷ lệ thương tích của người bị hại dưới 11%.

Tổng cộng là: 9.988.000 đồng. Bị cáo đã tự khắc phục bồi thường 10.000.000 đồng cho người bị hại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn H xong.

Trả số tiền 10.000.000đ mà bị cáo đã nộp khắc phục theo biên lai số 0000973, ngày 5/4/2019 và biên lai số 0000994, ngày 06/8/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn H, tỉnh Phú Yên trả cho bị hại Nguyễn Thị Bội Nh.

Đối với khoản tiền yêu cầu thẩm mỹ là 6.500.000 đồng người bị hại chưa có hóa đơn chúng từ hợp lệ. HĐXX tách ra khi nào có đủ chứng từ thì khởi kiện bằng vụ kiện khác.

Đối với Trần Thị H đã rủ Trần Thị Tr và Võ Thị Hồng M đến chợ Sơn H với mục đích là để chửi cảnh cáo Nguyễn Thị Bội Nh; Việc Tr gây thương tích cho Nh là ngoài giới hạn của H. H và M không trực tiếp gây thương tích cho Nh nên H và M không đồng phạm với Tr về hành vi Trúc gây thương tích cho Nh. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn H và Viện KSND huyện Sơn H không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Trần Thị H và Võ Thị Hồng M là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Tr phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của BLHS đối với bị cáo Trúc

Tuyên phạt bị cáo Trần Thị Tr 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Thị Tr cho Ủy ban nhân dân xã Sơn Ng, huyện Sơn H, tỉnh Phú Yên nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Trần Thị Tr có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Sơn Ng, huyện Sơn H, tỉnh Phú Yên trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp, bị cáo Trần Thị Tr thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Trả số tiền 10.000.000đ mà bị cáo đã nộp khắc phục theo biên lai số 0000973, ngày 5/4/2019 và biên lai số 0000994, ngày 06/8/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn H, tỉnh Phú Yên trả cho bị hại Nguyễn Thị Bội Nh.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Thị Trúc phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.

Báo cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ