- Tranh chấp gì? án hình sự — "trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 136, 260 và 333 UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2019/HS-ST Ngày: 19-02-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sinh
Các Hội thẩm nhân dân: 1 .Ông Thượng Văn Kịnh;
2. Ông Trương Ngọc Điệp.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân
Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lưu Kim Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân
Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 326/2018/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2019/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1989
Kiên Giang; Nơi cư trú: Khu phố S, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ
: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị L; bị cáo có vợ là Bùi Thị Phượng L và 03 con; tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 11/12/2017, bị UBND xã Hòa Phú, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định số 335/QĐ-UBND đưa người nghiện ma túy vào cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2 để quản lý, cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Nhân thân: Ngày 17/4/2007, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án hình sự sơ thẩm số 70/2007/HSST; Ngày 05/8/2009, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt với hình phạt 09 (chín) tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 70/2007/HSST ngày 17/4/2007 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 230/2009/HSST; bắt ngày 07/9/2018 và tạm giam cho đến nay; có mặt.
Bị hại: Ông Giang Hớn B, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 1, khu phố 6, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Thanh H, ông Nguyễn Văn B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 05 tháng 9 năm 2018, Nguyễn Văn L cùng vợ là Bùi Thị Phượng L, sinh năm 1990; địa chỉ: Khu phố S, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang đi bộ từ nhà người bạn tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) thuộc tổ 5, khu 1, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương đến các khu vực khác trên địa bàn thành phố T để tìm phòng trọ thuê ở nhưng không được. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày cả hai đi bộ quay lại nhà H, khi cả hai đi qua nhà số 1, tổ 5, khu 1, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì thấy phía trước cổng nhà có dựng xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ biển số 61H1 – 228.29 của ông Giang Hớn B, sinh năm 1985; địa chỉ: Khu 6, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương nên L nảy sinh ý định lấy trộm xe mô tô này. Để thực hiện ý định trên, L đi bộ cùng L về nhà H rồi nói với L vô nhà H đi để L đi ra đây có tí việc rồi L đi bộ đến vị trí cách nhà H khoảng 200 mét lấy cây đoản mà L đã để trước đó giấu vào túi quần đang mặc rồi đi đến vị trí xe mô tô Honda Wave màu đỏ biển số 61H1 – 228.29, L quan sát thấy xung quanh không có người qua lại nên cầm cây đoản đưa vào ổ khóa xe mô tô rồi vặn mạnh theo hướng từ trái sang phải thì mở được khóa cổ nhưng không nổ máy được nên L dẫn bộ xe đi ra hướng đường B rồi dẫn đến bãi đất trống thuộc khu 1, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (gần khu vực gò mã lạng) rồi bỏ xe lại đó và đi bộ về nhà H. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày 05 tháng 9 năm 2018 ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1950; địa chỉ: Tổ 4, khu 1, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương là bảo vệ dân phố phát hiện chiếc xe bỏ lại trên bãi cỏ nên báo Công an phường Phú Cường, thành phố Thủ Dầu Một đến lập biên bản thu giữ xe để xác minh làm rõ.
Đến 12 giờ ngày 06/9/2018 khi Nguyễn Văn L đang ngồi uống nước tại quán nước ven đường thuộc phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương thì ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1971; địa chỉ: Số 1, khu 1, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương là thành viên câu lạc bộ phòng chống tội phạm phường P thấy L có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu L về trụ sở Công an phường Hiệp Thành để làm việc. Tại Công an phường Hiệp Thành, L đã thừa nhận L là người lấy trộm xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ biển số 61H1 – 228.29 tại nhà số 9, tổ 5, khu 1, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương và đem cất giấu tại bãi đất trống khu 1, phường P, thành phố T. Cùng ngày 06/9/2018 Công an phường Phú Cường, Công an phường Hiệp Thành, thành phố Thủ Dầu Một chuyển hồ sơ, đối tượng cùng tang vật đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra, ông Giang Hớn B khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 05 tháng 9 năm 2018 ông B đi làm về và dựng xe trước nhà số 9, tổ 5, khu 1, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương rồi đi vào trong nhà nấu cơm, đến khoảng 19 giờ 45 phút cùng ngày ông B ra chổ để xe thì phát hiện bị mất nên đến Công an phường Hiệp Thành trình báo sự việc.
Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 323/KLTS-TTHS ngày 13 tháng 9 năm 2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Dầu Một, kết luận: Xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 61H1 – 288.29, trị giá 12.500.000 đồng.
Đối với xe mô tô hiệu Honda Wave biển số 61H1 – 288.29, quá trình điều tra, xác định: Người đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký xe là ông Giang Hớn B. Sau khi sự việc xảy ra ông B đã nhận lại xe mô tô trên nên không yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Đối với cây đoản mà Nguyễn Văn L sử dụng làm công cụ thực hiện hành vi phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Thủ Dầu Một chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS – HS ngày 26/12/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân
Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
Thủ Dầu Một giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 101
Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L
từ 15 đến 18 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 (một) cây đoãn bằng sắt đã thu giữ của bị cáo là công cụ bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo Nguyễn Văn L không có ý kiến tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai của bị hại, người làm chứng chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án
Ngày 05 tháng 9 năm 2018, Nguyễn Văn L có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ đen biển số 61H1 – 288.29, trị giá 12.500.000 đồng của ông Giang Hớn B tại địa bàn phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên hành vi
1
u 173
. Bị cáo có
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm ph đến quyền sở hữu
tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật chỉ vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của
. Do đó để có tác dụng giáo dục bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời
đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã
, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tài sản đã thu hồi và giao trả cho bị hại, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s k
1, khoản 2
51
.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã 02 lần bị xử phạt về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngoài ra, bị cáo còn bị áp dụng quyết định đưa người nghiện ma túy vào cơ sở xã hội Thanh Thiếu Niên 2 để quản lý, cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Đối chiếu với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, c
của bị cáo,
thấy đ
phù hợp. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tài sản đã được thu hồi và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 14/02/2019, bị hại ông Giang Hớn B có đơn xin xét xử vắng mặt và không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết trách nhiệm dân sự của bị cáo với ông Bảo.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 (một) cây đoãn bằng sắt đã thu giữ của bị cáo là công cụ bị cáo sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47, Điều 101 của
; Các
136, 260 và 333 UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1./ Về hình phạt:
ị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm tù.
chấp hành hình phạt
07/9/2018.
2./ Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây đoãn bằng sắt.
(Thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng số 050.19 ngày 26/12/2018 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).
3/. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải nộp 200.000đ.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai./. Nơi nhận:
- TAND tỉnh Bình Dương;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- Công an tỉnh Bình Dương;
- VKSND thành phố Thủ Dầu Một;
- Công an thành phố Thủ Dầu Một;
- Chi cục THADS TP. Thủ Dầu Một;
- Sở Tư Pháp tỉnh Bình Dương;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu HS, VP
Nguyễn Duy Sinh
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Công an tỉnh Bình Dương (PV27); - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương; - - - DS - Người tham gia tố tụng; - Lưu: HS, Tòa. | SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Thanh Tâm |