vanban.org

Bản án 21/2019/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 04/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2017); Điều 599 Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 579 Bộ luật dân sự năm 2015).

* Buộc các bị đơn hoàn trả lại cho nguyên đơn Ban quản lý Khu A tỉnh Hà Tĩnh tổng số tiền 7.398.148.841đồng, cụ thể như sau: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hồng Q - Dân sự trong hình sự năm 2019 - phạm tội cố ý làm trải quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (đi…"
  • Tòa quyết gì? 2017); Điều 599 Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 579 Bộ luật dân sự năm 2015).
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 42 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 21/2019/HS-ST

Ngày

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH - Với

thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Đào Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hoài Bà Nguyễn Thị Tùng Hoa. - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Ông Phan Thanh Nam - Kiểm sát viên. Ngày 04 tháng 6 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2018/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2018 về “Phần dân sự trong vụ án hình sự” giữa: * Nguyên đơn dân sự: Ban quản lý Khu A tỉnh Hà Tĩnh. Địa chỉ: Xã Kỳ Lợi, thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Tất T - Trưởng ban (Vắng mặt). Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lương Sỹ Đ - Trưởng phòng kế hoạch tổng hợp (Có mặt). * Bị đơn dân sự: 1. Lê Anh T; địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 2. Trần Nam Q (); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 3. Trần Công D (C); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 4. Trần Xuân D; địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 5. Nguyễn Đình T (L); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 6. Nguyễn Đ (P); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 7. Chu Thị L; địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 8. Lê Văn S (H); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 9. Trần Văn S (H); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 10. Nguyễn Văn T (C); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 11. Trần Xuân T (A); địa chỉ: TDP T, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 12. Cao Thị H; địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 13. Lê Hữu D (đã mất); người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thị T; địa chỉ: TDP H, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 14. Nguyễn Thị D; địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 15. Trần H (đã mất); người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thị D; địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh.

16. Chu L (T); địa chỉ: TDP H, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 17. Chu Văn T (đã mất); người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thị L; địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 18. Chu Văn H (H); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 19. Nguyễn Đình X; địa chỉ: TDP T, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 20. Cao Đ (T; địa chỉ: TDP H, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 21. Nguyễn Tiến H (Sáu); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 22. Lê Văn T (H); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 23. Trần Đình T (V); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 24. Nguyễn Đình N; địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 25. Trần Đình N; địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 26. Trần Công H; địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 27. Nguyễn Thị T; địa chỉ: TDP H, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 28. Trần Trọng M (D); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 29. Lê Hữu M (đã mất); người đại diện theo pháp luật: Trần Thị H; địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 30. Lê Thị T; địa chỉ: TDP H, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 31. Lê Xuân L (H); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 32. Trần Đình X (T); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 33. Trần Đình H (N); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 34. Trần Hiểu (đã mất); người đại diện theo pháp luật: Hồ Thị Lịch; địa chỉ: TDP Liên Giang, phường Kỳ Long, TX Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh. 35. Nguyễn L (T); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 36. Nguyễn K (V); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 37. Phạm Xuân S (T); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 38. Dương Văn Q; địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 39. Lê Hồng V (K); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 40. Lê Xuân N (X); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 41. Nguyễn Xuân T (X); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 42. Nguyễn Đình C; địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 43. Nguyễn Đình T (T); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 44. Nguyễn Hoài V (H); địa chỉ: Thôn C, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 45. Nguyễn Văn S (K); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 46. Nguyễn Văn T (Cúc); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 47. Nguyễn Xuân H (D); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 48. Phan Văn T (M); địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 49. Trần Đình C; địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 50. Trần Trọng T; địa chỉ: TDP L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. 51. Trần Văn P (D); địa chỉ: TDP T, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh. Các bị đơn đều vắng mặt tại phiên toà, không có lý do. * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: 1. Nguyễn Hồng Q; sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ dân phố H, phường S, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (đang thi hành án tại Trại giam Xuân Hà), có mặt. 2. Lê Huy H; sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (đang thi hành án tại Trại giam Xuân Hà), có mặt.

3. Lê Thị Hồng V; sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt. 4. Nguyễn Văn D; sinh năm 1984; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường K, Thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt. 5. Nguyễn Việt Đ; sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ dân phố 2, phường S, Thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt. 6. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Tĩnh, vắng mặt. 7. Uỷ ban nhân dân thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh và Phòng tài nguyên môi trường thị xã Kỳ Anh. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Quốc H - Phụ trách phòng tài nguyên và môi trường thị xã K, có mặt. 8. Uỷ ban nhân dân phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Lê Công T - Phó chủ tịch, có mặt. 9. Trường THCS K, phường K, thị xã K, vắng mặt. 10. Ông Nguyễn Hoài S; địa chỉ: Thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, có mặt. 11. Ông Trần Hữu P, sinh năm 1982; địa chỉ: tổ dân phố L, phường K, TX K, tỉnh Hà Tĩnh; có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ đầu năm 2011 đến tháng 8/2012, quá trình giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án xây dựng khu công nghiệp P thuộc khu Kinh tế V, huyện K (nay là Thị xã K) trên địa bàn xã K, việc kiểm tra, kiểm đếm xác định thực trạng sử dụng đất của các hộ dân bị ảnh hưởng bởi dự án P để làm căn cứ bồi thường thì Nguyễn Hồng Q, Lê Huy H và Nguyễn Văn D (đều là thành viên trong Hội đồng bồi thường dự án của huyện K) đã cùng với Lê Hữu D, Lê Thị Hồng V (thời điểm đó Lê Hữu D là chủ tịch, Lê Thị Hồng V là cán bộ địa chính xã K) cố ý xác định loại đất không đúng hiện trạng thực tế 68 thửa của 52 hộ dân với diện tích 268,586m2 từ đất lâm nghiệp thành đất nông nghiệp rồi áp giá bồi thường cao hơn để được các hộ dân đồng thuận nhanh chóng bàn giao đất, đã gây thất thoát cho ngân sách nhà nước 7.770.197.320 đồng. Đối với Nguyễn Việt Đ - phó Chủ tịch Hội đồng bồi thường phụ trách dự án P, có nhiệm vụ chỉ đạo xây dựng hồ sơ bồi thường, ký các hồ sơ và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Hội đồng bồi thường và trước pháp luật về tính chính xác, đầy đủ của hồ sơ bồi thường. Tuy nhiên, khi phụ trách kiểm kê cho 38 hộ còn lại, Nguyễn Việt Đ chưa thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật và nhiệm vụ được phân công như: không chỉ đạo sát sao quá trình xây dựng hồ sơ bồi thường của tổ kiểm kê; không liên hệ với chính quyền địa phương để kiểm tra kết quả xác định nguồn gốc đất; khi ký hồ sơ bồi thường không kiểm tra, soát xét để phát hiện các sai phạm. Do tin tưởng vào báo cáo của các cán bộ kiểm kê, Nguyễn Việt Đ đã ký các hồ sơ bồi thường do tổ kiểm kê xây dựng sai nhưng không phát hiện được, trực tiếp ký biên bản kiểm kê của 12 thửa

đất có sai phạm từ loại “đất lâm nghiệp” thành “đất nông nghiệp”, dẫn đến gây thất thoát ngân sách Nhà nước số tiền 1.288.715.781 đồng. Bản án hình sự phúc thẩm số 718/2018/HSPT ngày 17/10/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã áp dụng khoản 3 Điều 165, khoản 2 Điều 46, Điều 47 BLHS 1999 và điểm x khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 (áp dụng thêm Điều 60 BLHS đối với 2 bị cáo V và D) xử phạt: bị cáo Nguyễn Hồng Q 6 năm tù; Lê Huy H 3 năm tù; Lê Thị Hồng V 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 60 tháng; Nguyễn Văn D 2 năm tù nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 48 tháng. Về phần trách nhiệm dân sự: Số tiền thất thoát 7.770.197.320 đồng là do các hộ dân được hưởng không đúng pháp luật, tức là được hưởng nhiều hơn số tiền thực chất, mà lẽ ra các hộ dân chỉ được hưởng thực tế về hiện trạng của đất nếu các bị cáo này không cố ý làm trái. Các hộ dân này đều có địa chỉ cụ thể, rõ ràng nên cần phải buộc họ hoàn trả lại khoản tiền họ được hưởng do các bị cáo gây ra để trả lại cho nguyên đơn dân sự theo quy định tại khoản 4 Điều 275 và Điều 579 BLDS 2015. Do đó, áp dụng Điều 250 BLTTHS: Hủy phần trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự Nguyễn Hồng Q cùng đồng phạm phạm tội “Cố ý làm trái các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” và tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” để điều tra, xét xử lại. Trên cơ sở kết quả điều tra lại phản ánh: Sau khi bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực, các bị cáo trong vụ án gồm: Nguyễn Hồng Q, Lê Huy H, Lê Thị Hồng V và Nguyễn Văn D và Nguyễn Việt Đ hiện đang chấp hành án theo quy định của pháp luật. Về phần trách nhiệm dân sự giữa nguyên đơn dân sự là Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh với bị đơn dân sự là 52 hộ dân (theo kết quả điều tra lại xác định 52 hộ dân thành 51 hộ dân vì có 1 hộ dân hai thửa nên gộp lại tính 1 hộ, về số thửa không thay đổi) thì trong đó 50 hộ dân có hộ khẩu tại phường K, Thị xã Kỳ Anh còn 1 hộ có hộ khẩu tại xã K, huyện Kỳ Anh. Kết quả điều tra phản ánh: 50 hộ dân tại xã Kỳ Long và 01 hộ dân trú tại xã Kỳ Châu đã nhận 9.113.128.070 đồng do được bồi thường 68 thửa đất màu. Thực tế, 68 thửa đất này trồng keo, tràm bạch đàn, theo đúng quy định chỉ được bồi thường đất lâm nghiệp số tiền 1.342.930.750 đồng. Khoản tiền chênh lệch 7.770.197.320 đồng các hộ dân được hưởng lợi do hành vi cố ý làm trái và thiếu trách nhiệm của các bị cáo và nay các bị cáo đã phải chịu trách nhiệm hình sự. Quá trình lấy lời khai, các hộ dân đều khẳng định quá trình lập hồ sơ bồi thường có tham gia kiểm kê, quá trình thực hiện, cán bộ Hội đồng bồi thường lập biên bản kiểm kê chỉ ghi chữ “đất”, chưa phản ánh loại đất gì nhưng đúng diện tích. Theo hướng dẫn và yêu cầu của các cán bộ Hội đồng bồi thường, các hộ dân ký xác nhận vào vị trí chủ hộ. Các hộ dân nhận đủ số tiền bồi thường 68 thửa đất tổng số tiền 9.113.128.070 đồng theo hồ sơ, bao gồm 7.770.197.320 đồng tiền chênh lệch khi chuyển đổi loại đất (thể hiện cụ thể ở Bảng kê dưới đây):

Diện tích STT Họ và Tên Bản Số chuyển từ Bồi thường giá Bồi thường đất Chênh lệch đồ thửa RSM sang đất màu lâm nghiệp BHK (m2) 1 LÊ ANH TRÂM 234A 2 7,495.1 254,308,743 37,475,500 216,833,243 TRẦN NAM 2 117A QUYNH (HẰNG) 2 720.0 24,429,600 3,600,000 20,829,600 TRẦN CÔNG 3 15 DUYẾN (CHÂU) 2 8,510.3 288,754,479 42,551,500 246,202,979 186, TRẦN XUÂN 4 162B, DANH 2 211C 1,917.7 65,067,561 9,588,500 55,479,061 NGUYỄN ĐÌNH 5 234B THUẬN (LÝ) 2 548.6 18,613,998 2,743,000 15,870,998 NGUYỄN ĐIỀU 6 117B (PHƯƠNG) 2 3,127.1 106,102,503 15,635,500 90,467,003 7 CHU THỊ LÀI 211B 2 418.2 14,189,526 2,091,000 12,098,526 LÊ VĂN SÁNH 8 236A (HƯỜNG) 2 889.7 30,187,521 4,448,500 25,739,021 TRẦN VĂN SƠN 9 404 (HÀ) 1 3,446.8 116,949,924 17,234,000 99,715,924 NGUYỄN VĂN 10 31 THÀNH (CÚC) 1 196.7 6,674,031 983,500 5,690,531 TRẦN XUÂN 11 162A THÀNH (ANH) 2 693.8 23,540,634 3,469,000 20,071,634 297B, 12 CAO THỊ THẠNH 2 297C 5,117.8 173,646,954 25,589,000 148,057,954 13 LÊ HỮU DIỆN 508A 1 3,964.3 134,507,003 19,821,250 114,685,753 NGUYỄN THỊ 14 505 DƯƠNG 1 2,769.2 93,958,956 13,846,000 80,112,956 15 TRẦN HỌC (ĐIỀN) 185 2 4,484.1 152,145,513 22,420,500 129,725,013 16 CHU LỘC (THỰ) 250C 378,821,664 55,824,000 322,997,664 2 11,164.8 CHU VĂN TẶNG 17 (LÝ) 2 250A 0 0 2 250D 0 0 CHU VĂN HẢI 18 2 250E 0 0 (HOÀI) 250F NGUYỄN ĐÌNH 19 0 0 XUYN (43,8 2 m2) 20 CAO ĐỨC (TÂM) 2 250B 0 0 2 2,014.0 68,335,020 10,070,000 58,265,020

NGUYỄN TIẾN 21 111 HANH (SÁU) 2 5,751.0 195,131,430 28,755,000 166,376,430 LÊ VĂN TÚC 268, (HẰNG) 2 313 14,950.9 507,284,037 74,754,500 432,529,537 23 TRẦN ĐÌNH THIỆN 350A 2 2,660.0 90,253,800 13,300,000 76,953,800 NGUYỄN ĐÌNH 24 356; NHIÊN 1.2 2- 134 27,293.9 926,080,331 136,469,250 789,611,081 TRẦN ĐÌNH 25 137B NHÂM 1 500.0 16,965,000 2,500,000 14,465,000 TRẦN CÔNG 26 347 HẠNH 2 7,586.4 257,406,552 37,932,000 219,474,552 NGUYỄN THỊ 508B, TUYẾT 1 488 8,942.3 303,410,543 44,711,250 258,699,293 TRẦN TRỌNG 28 164 MĨNH (DIỆU) 2 21,744.0 737,773,920 108,720,000 629,053,920 LÊ HỮU MINH 29 439 (HỢP) 1 1,779.7 60,385,221 8,898,500 51,486,721 30 LÊ THỊ TÍN 137A 1 13,209.9 448,211,907 66,049,500 382,162,407 LÊ XUÂN LÝ 31 211A (HIỀN) 2 2,450.0 83,128,500 12,250,000 70,878,500 TRẦN ĐÌNH XUÂN 32 223A (TUYẾT) 2 2,030.5 68,894,865 10,152,500 58,742,365 TRẦN ĐÌNH HẢI 33 (NINH) 223B 2 2,030.5 68,894,865 10,152,500 58,742,365 34 TRẦN HIỂU (LỊCH) 223C 2 2,030.5 68,894,865 10,152,500 58,742,365 325, NGUYỄN LÚY 35 297A, (TIẾN) 2 236B 8,630.9 292,846,437 43,154,500 249,691,937 NGUYỄN KIỄN 36 184 (VÂN) 2 2,826.6 95,906,538 14,133,000 81,773,538 PHẠM XUÂN 37 SÁNG (TUYẾT) 223D 2 5,691.1 193,099,023 28,455,500 164,643,523 38 DƯƠNG VĂN QUẾ 1 403A 4,080.0 138,434,400 20,400,000 118,034,400 LÊ HỒNG VIỆT 301, 39 (KHANH) 1 2,513.3 328 85,276,269 12,566,500 72,709,769 LÊ XUÂN 454, 40 NGUYÊN (XUÂN) 1 1,769.7 456B 60,045,921 8,848,500 51,197,421 Lê Xuân Nguyên (Xuân) + 41 1 494 1,695.5 Nguyễn Xuân Thắm 57,528,315 8,477,500 49,050,815 (Xuân) NGUYỄN ĐÌNH 42 1 482A 4,000.7 CHƯƠNG 135,743,751 20,003,500 115,740,251

NGUYỄN ĐÌNH 43 THANH (THỦY) 1 487 180.9 6,137,937 904,500 5,233,437 NGUYỄN HOÀI 44 VĂN (HẢO) 1 456A 8,000.0 271,440,000 40,000,000 231,440,000 NGUYỄN VĂN 456C, 45 SÁNG (KỸ) 1 3,962.8 474 134,457,804 19,814,000 114,643,804 NGUYỄN VĂN 46 TUẤN 1 458A 5,368.6 182,156,598 26,843,000 155,313,598 NGUYỄN XUÂN 47 HÒA (DUYÊN) 1 453B 15,273.2 518,219,676 76,366,000 441,853,676 339, 353, 48 PHAN VĂN TIẾN 1 12,631.9 354, 428,600,367 63,159,500 365,440,867 TRẦN ĐÌNH 49 CHUNG 1 277B 3,000.0 101,790,000 15,000,000 86,790,000 TRẦN TRỌNG THỂ 50 (ANH) 1 453A 15,006.2 509,160,366 75,031,000 434,129,366 TRẦN VĂN PHÚ 277A, 51 (DUÂN) 1 3,517.1 297 119,335,203 17,585,500 101,749,703 TỔNG 68,586.2 9,113,128,070 1,342,930,750 7,770,197,320 Trong 68 thửa theo Bảng kê trên, có thửa 250 tờ bản đồ số 2, quá trình lập hồ sơ bồi thường được tách thành 6 thửa cho 5 hộ gồm: Chu L (250C), Chu Văn T (250A, 250D), Chu Văn H (250E), Nguyễn Đình X (250F), Cao Đ (250B). Thực tế thửa đất này bao gồm cả đất màu và đất lâm nghiệp. Khi chuyển đổi loại đất cho các hộ này, các đối tượng xác định toàn bộ thửa đất 250 là đất màu, không trích đo lại trên bản đồ để xác định vị trí, chỉ chia đất trên hồ sơ nên không thể xác định rõ sai phạm và khoản tiền chênh lệch từng hộ dân hưởng lợi, chỉ xác định được tổng tiền chênh lệch cho toàn bộ thửa đất 250 là 322,997,664 đồng. Thửa đất số 494 tờ bản đồ số 01, được tách cho 2 hộ Lê Xuân N (494A) và Nguyễn Xuân T (494B), chỉ có cơ sở để xác định tổng tiền chênh lệch của cả thửa là 49,050,815 đồng, không thể xác định được khoản chênh lệch đối với từng thửa nhỏ đã tách cho từng hộ. Trong vụ án này, ngoài phần xác định trách nhiệm hình sự, dân sự như đã nêu trên còn có một số nội dung liên quan cần giải quyết, cụ thể: - Số tiền 20.395.500 đồng mà Tòa án nhân dân cấp cao yêu cầu kiểm tra, xác minh để xử lý. Số tiền 20.395.000 đồng là tiền nằm trong tổng số tiền 220.395.000 đồng do các bị cáo Lê Hữu D, Nguyễn Hồng Q, Lê Huy H, Lê Thị Hồng V đã thống nhất với ông Trần Hữu P làm lại hồ sơ bồi thường của ông P nâng khống khối lượng bồi thường từ 1.386.576.800 đồng lên 1.606.972.300 đồng, vượt so với thực tế là 220.395.000 đồng. Sau khi nhận được tiền bồi thường 1.606.972.300 đồng, ông Trần Hữu P đã trích giao lại cho trường THCS K 200.000.000 đồng, còn lại 20.395.000 đồng là tiền chênh lệch ông P được hưởng so với thực tế. Kết

quả giám định phản ánh: Đối với số tiền 200.000.000đồng ông Trần Hữu P giao lại cho Trường THCS K, Trường THCS K chi sử dụng thanh toán nợ vay phục vụ lễ đón nhận danh hiệu Trường chuẩn quốc gia 62 triệu đồng và chi tham quan thực tế, học hỏi mô hình phục vụ giảng dạy 138 triệu đồng; tuy nhiên, tại thời điểm giám định, giám định viên không có hồ sơ quyết toán các khoản chi nói trên, cho nên không đủ cơ sở để giám định và kết luận thất thoát vốn ngân sách nhà nước, còn đối với số tiền 20.395.500 đồng do nâng khối lượng bồi thường mà ông Trần Hữu P giữ lại được coi là đã thất thoát vốn NSNN. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ số tiền 20.395.500 đồng do ông Trần Hữu P nộp, tại phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án nhưng chưa giải quyết số tiền này, nay đề nghị Tòa án tuyên trả lại cho Ban quản lý khu A tỉnh Hà Tĩnh số tiền 20.395.000 đồng hiện số tiền này đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh. - Số tiền 257.743.156 đồng mà bị cáo Nguyễn Việt Đ đã nộp để khắc phục hậu quả: Hiện tại bị cáo Nguyễn Việt Đ đã thi hành xong phần bồi thường của mình theo quyết định tại Bản án hình sự sơ thẩm số 01/2017 với số tiền là 257.743.156 đồng. Tuy nhiên, tại Bản án hình sự phúc thẩm cho rằng các bị cáo phải chịu TNHS về hành vi phạm tội của mình, không phải chịu về phần bồi thường trách nhiệm dân sự, vì thế nên xét thấy cần phải trả lại số tiền này cho bị cáo Nguyễn Việt Đ theo đúng quy định của pháp luật. Tại kết luận số 900/KL-VKS ngày 06/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh buộc các hộ dân nói trên phải có nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền hưởng lợi 7.770.197.320 đồng cho nguyên đơn dân sự là Ban quản lý Khu A Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 579 Bộ luật dân sự 2015; buộc ông Trần Hữu Phước trả lại cho Ban quản lý khu A tỉnh Hà Tĩnh số tiền 20.395.000 đồng; tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn Việt Đ số tiền 257.743.156 đồng mà bị cáo đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh để khắc phục hậu quả. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Kết luận và đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị đơn dân sự trả lại cho Ban quản lý Khu kinh tế Hà Tĩnh số tiền cụ thể như tại Kết luận số 900/KL-VKS ngày 06/6/2018 và buộc phải chịu án phí HSST và án phí dân sự theo quy định của pháp luật; trả lại cho Nguyễn Việt Đ số tiền 257.743.156đồng nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh để khắc phục hậu quả; trả lại cho Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh đối với số tiền 20.395.500đồng do ông Trần Hữu P nộp lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Quyết định của Bản án hình sự phúc thẩm số 718/2018/HSPT ngày 17/10/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã hủy một phần bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh và giao hồ sơ cho Tòa án sơ thẩm xét xử lại phần dân sự nên Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thụ lý, giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự theo quy định của pháp luật. [2] Về nội dung:

Về phần hình phạt: Bị cáo Nguyễn Việt Đ sau khi xét xử sơ thẩm không có kháng cáo nên quyết định về phần hình phạt của Bản án sơ thẩm số 01/2017/HSST ngày 15/02/2017 của TAND tỉnh Hà Tĩnh đối với bị cáo Đ có hiệu lực pháp luật. Quyết định của Bản án hình sự phúc thẩm số 718/2017/HSPT ngày 17/10/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã có hiệu lực pháp luật đối với các bị cáo Nguyễn Hồng Q, Lê Huy H, Lê Thị Hồng V, Nguyễn Văn D về phần hình phạt. Các bị cáo đang thi hành bản án. [2.2] Về phần trách nhiệm dân sự: [2.2.1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quyết định của bản án sơ thẩm, bản án phúc thẩm, thấy rằng: Các bị cáo có hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng và hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, kiểm kê, kê khai sai loại đất từ đất lâm nghiệp thành đất nông nghiệp dẫn đến bồi thường sai theo quy định pháp luật. Việc Toà án cấp sơ thẩm buộc các bị cáo Nguyễn Việt Đ, Nguyễn Hồng Q, Lê Huy H, Lê Thị Hồng V, Nguyễn Văn D phải có trách nhiệm liên đới bồi thường số tiền mà các bị cáo đã gây thiệt hại cho Nhà nước do hành vi cố ý làm trái các quy định về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng với tổng số tiền 7.770.197.320đồng là không đúng quy định của pháp luật bởi vì: Số tiền thất thoát 7.770.197.320 đồng là do các hộ dân được hưởng không đúng pháp luật, tức là được hưởng nhiều hơn số tiền thực chất, mà lẽ ra các hộ dân chỉ được hưởng thực tế về hiện trạng của đất nếu các bị cáo này không cố ý làm trái. Thời điểm xảy ra vụ án, trên địa bàn huyện K có hàng trăm dự án cần đẩy nhanh tiến độ bồi thường giải phóng mặt bằng. Các bị cáo vì sức ép công việc chung, muốn giải phóng mặt bằng nhanh nên bồi thường mức cao hơn có lợi cho dân, không hưởng lợi cá nhân. Các hộ dân này đều có địa chỉ cụ thể, rõ ràng. Vì vậy, cần buộc các hộ dân phải có nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền hưởng lợi này cho nguyên đơn dân sự là Ban quản lý Khu A Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 599 Bộ luật dân sự 2005 (Điều 579 Bộ luật dân sự 2015) như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Điều 599 BLDS 2005, quy định: 1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp tài sản đó thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này. 2. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 247 của Bộ luật này. Điều 579 BLDS 2015, quy định: 1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó...

2. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này. [2.2.2] Các bị cáo có hành vi cố ý làm trái thì các bị cáo đã phải chịu trách nhiệm hình sự nên không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước (do Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh đại diện). Bị cáo Nguyễn Việt Đ đã tự nguyện khắc phục số tiền 257.743.156 đồng (nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh) nên cần tuyên trả cho bị cáo số tiền này. [2.2.3] Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ số tiền 20.395.500 đồng do ông Trần Hữu P nộp, tại bản án hình sự sơ thẩm xét xử vụ án chưa tuyên giải quyết số tiền này. Đây là số tiền mà ông Trần Hữu P được hưởng không đúng pháp luật (hưởng nhiều hơn số tiền thực chất lẽ ra ông Phước được hưởng) nên Viện KSND tỉnh Hà Tĩnh đề nghị tuyên trả lại cho Ban quản lý khu A tỉnh Hà Tĩnh đối với số tiền 20.395.500 đồng hiện đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh là có căn cứ. [2.2.4] Đối với 07 hộ dân (05 hộ được chia từ thửa 250, gồm: Chu L, Chu Văn T, Chu Văn H, Cao Đ, Nguyễn Đình X và 2 hộ được chia từ thửa 494, gồm: Lê Xuân N và Nguyễn Xuân T) do khi Hội đồng bồi thường lập hồ sơ bồi thường đã xác định toàn bộ thửa đất 250 và 494 là đất màu và không tiến hành trích đo lại trên bản đồ để xác định vị trí, chỉ chia đất trên hồ sơ nên không thể xác định rõ sai phạm và khoản tiền chênh lệch từng hộ dân hưởng lợi, chỉ xác định được tổng tiền chênh lệch cho toàn bộ thửa đất 250 là: 322.997.664 đồng và thửa đất 494 là 49.050.815 đồng. Vì thế, nên trong số tiền xác định thất thoát 7.770.197.320 đồng của 68 thửa đất có 372.048.479 đồng là tiền của 2 thửa đất 250 và 494. Quá trình điều tra do không cơ cơ sở để xác định trách nhiệm dân sự của từng hộ dân là bao nhiêu trong tổng số tiền 372.048.479 đồng để yêu cầu bồi hoàn lại theo quy định của pháp luật. Cơ quan điều tra tách nội dung liên quan đến 2 thửa đất này để tiếp tục điều tra xử lý sau là có căn cứ. Về án phí: Trong vụ án này, phần dân sự bị Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội huỷ để xét xử lại theo quy định của pháp luật. Xét thấy, các bị đơn dân sự trong vụ án không có lỗi đối với việc được hưởng phần chênh lệch số tiền được trả, lỗi này thuộc về những người có thẩm quyền trong việc thực thi nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng. Mặt khác, số tiền chênh lệch các hộ được hưởng là biện pháp tư pháp trong vụ án hình sự, nếu giải quyết trong cùng vụ án hình sự thì sẽ bị truy thu theo quy định của pháp luật. Vì vậy, các bị đơn dân sự không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền chênh lệch họ phải trả lại cho nguyên đơn dân sự. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999 (Điều 46 Bộ luật hình sự năm 2017); Điều 599 Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 579 Bộ luật dân sự năm 2015). * Buộc các bị đơn hoàn trả lại cho nguyên đơn Ban quản lý Khu A tỉnh Hà Tĩnh tổng số tiền 7.398.148.841đồng, cụ thể như sau: 1. Buộc Lê Anh T hoàn trả số tiền 216.833.243đồng. 2. Buộc Trần Nam Q hoàn trả số tiền 20.829.600đồng. 3. Buộc Trần Công D hoàn trả số tiền 246.202.979đồng.

4. Buộc Trần Xuân D hoàn trả số tiền 55.479.061đồng. 5. Buộc Nguyễn Đình T hoàn trả số tiền 15.870.998đồng. 6. Buộc Nguyễn Đ hoàn trả số tiền 90.467.003đồng. 7. Buộc Chu Thị L hoàn trả số tiền 12.098.526đồng. 8. Buộc Lê Văn S (H) hoàn trả số tiền 25.739.021đồng. 9. Buộc Trần Văn S hoàn trả số tiền 99.715.924đồng. 10. Buộc Nguyễn Văn T hoàn trả số tiền 5.690.531đồng. 11. Buộc Trần Xuân T hoàn trả số tiền 20.071.634đồng. 12. Buộc Cao Thị H hoàn trả số tiền 148.057.954đồng. 13. Buộc Lê Hữu D (đã mất); người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thị T hoàn trả số tiền 114.685.753đồng. 14. Buộc Nguyễn Thị D hoàn trả số tiền 80.112.956đồng. 15. Buộc Trần H (đã mất); người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Thị D hoàn trả số tiền 129.725.013đồng. 16. Buộc Cao Đ hoàn trả số tiền 58.265.020đồng 17. Buộc Nguyễn Tiến H hoàn trả số tiền 166.376.000đồng. 18. Buộc Lê Văn T hoàn trả số tiền 432.529.537đồng. 19. Buộc Trần Đình T hoàn trả số tiền 76.953.800đồng. 20. Buộc Nguyễn Đình N hoàn trả số tiền 789.611.081đồng. 21. Buộc Trần Đình N hoàn trả số tiền 14.465.000đồng. 22. Buộc Trần Công H hoàn trả số tiền 219.474.552đồng. 23. Buộc Nguyễn Thị T hoàn trả số tiền 258.699.293đồng. 24. Buộc Trần Trọng M hoàn trả số tiền 629.053.920đồng. 25. Buộc Lê Hữu M (đã mất); người đại diện theo pháp luật: Trần Thị H hoàn trả số tiền 51.486.721đồng. 26. Buộc Lê Thị T hoàn trả số tiền 382.162.407đồng. 27. Buộc Lê Xuân L hoàn trả số tiền 70.878.500đồng. 28. Buộc Trần Đình X hoàn trả số tiền 58.742.365đồng. 29. Buộc Trần Đình H hoàn trả số tiền 58.742.365đồng. 30. Buộc Trần H; người đại diện theo pháp luật: Hồ Thị L hoàn trả số tiền 58.742.365đồng. 31. Buộc Nguyễn L hoàn trả số tiền 249.691.937đồng. 32. Buộc Nguyễn K hoàn trả số tiền 81.773.538đồng. 33. Buộc Phạm Xuân S hoàn trả số tiền 164.643.523đồng. 34. Buộc Dương Văn Q hoàn trả số tiền 118.034.400đồng. 35. Buộc Lê Hồng V hoàn trả số tiền 72.709.769đồng. 36. Buộc Lê Xuân N hoàn trả số tiền 51.197.421đồng. 37. Buộc Nguyễn Đình C hoàn trả số tiền 115.740.251đồng. 38. Buộc Nguyễn Đình T hoàn trả số tiền 5.233.437đồng. 39. Buộc Nguyễn Hoài V hoàn trả số tiền 231.440.000đồng. 40. Buộc Nguyễn Văn S hoàn trả số tiền 114.643.804đồng. 41. Buộc Nguyễn Văn T hoàn trả số tiền 155.313.598đồng. 42. Buộc Nguyễn Xuân H hoàn trả số tiền 441.853.676đồng. 43. Buộc Phan Văn T hoàn trả số tiền 365.440.867đồng. 44. Buộc Trần Đình C hoàn trả số tiền 86.790.000đồng. 45. Buộc Trần Trọng T hoàn trả số tiền 434.129.366đồng..

46. Buộc Trần Văn P hoàn trả số tiền 101.749.703đồng. * Trả lại cho Ban quản lý khu kinh tế tỉnh Hà Tĩnh đối với số tiền 20.395.500đồng do ông Trần Hữu P nộp lại, hiện đang tạm giữ tại tài khoản số 39.49.0.9042282.00000 của Công an tỉnh Hà Tĩnh theo giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 16/12/2015. * Trả lại cho Nguyễn Việt Đ số tiền 257.743.156đồng nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh để khắc phục hậu quả theo biên lai số 0005259 ngày 23/12/2016, số 0005262 ngày 04/01/2017 và số 0005267 ngày 29/3/2017 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người được thi hành bản án có quyền yêu cầu thi hành án, mà bên phải thi hành bản án chưa thi hành án thì phải chịu thêm khoản lãi theo lãi suất theo điều 305 của BLTTDS (theo lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước quy định) tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án. * Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 3 Điều 21, điểm c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị đơn dân sự mỗi người phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm; trả lại cho Nguyễn Việt Đ số tiền 3.087.000đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0000253 ngày 29/3/2017 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh. * Quyền kháng cáo: Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ