vanban.org

Bản án 21/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La Tuyên án 18/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn N - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
!HUYỆN!SỐP!CỘP
!!!!TỈNH!SƠN!LA!
!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2019/HS-ST
Ngày 18 tháng 6 năm 2019

NHÂN!DANH!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

!!!!!!!!!TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!SỐP!CỘP,!TỈNH!SƠN!LA!

Thành!phần!Hội!đồng!xét!xử!!sơ!thẩm!gồm!có:!

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng!Văn!Tuyền!

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ!Văn!Thuật!và ông Lò!Văn!Dưỡng!

Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên toà: Bà Lò! Thị!Kim - .Kiểm sát viên

Thư ký phiên toà: Ông Hà!Văn!Thiết - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

Ngày 18 tháng 6 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2019/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo sau đây:

Họ và Tên: Quàng!Văn!N - Sinh năm 1999, tại huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản Bánh, xã Púng Bánh, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam Con ông Quàng Văn T và bà Quàng Thị Th(đã chết); bị cáo chưa có vợ, con Tiền án, tiền sự: không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/02/2019; Có mặt tại phiên toà.

NỘI!DUNG!VỤ!ÁN!

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 3 giờ ngày 17 tháng 2 năm 2019, tại khu vực bản Hua Mường, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tổ công tác của Công an huyện Sốp Cộp đã phát hiện và bắt quả tang Quàng Văn N đang có hành vi cất dấu trái phép chất ma tuý; vật chứng thu giữ tại túi áo đang mặc của Quàng Văn N một gói nilon màu đen bên trong có chứa 15 viên nén màu hồng nghi là ma túy tổng hợp; thu giữ 01 xe máy hiệu Honda, loại ABALE, không có biển kiểm soát; Quàng Văn N bị bắt giữ bị dẫn giải đến cơ quan công an huyện Sốp Cộp để làm rõ.

Ngày 18/02/2019, cơ quan điều tra đã mở niêm phong cân tịnh vật chứng thu giữ của Quàng Văn N và lấy mẫu giám định, xác định như sau: 15 viên nén màu hồng thu giữ của Quàng Văn N có khối lượng là 1,425 gam, đã lấy 10 viên có khối lượng là 0,953 gam làm mẫu giám định, ký hiệu N, vật chứng còn lại là 05 viên nén màu hồng có khối lượng là 0,472 gam, ký hiệu N1, 01 phong bì niêm phong ban đầu và 01 mảnh nilon màu đen nhập vào kho vật chứng của Công an huyện Sốp Cộp.

Kết luận giám định số 485 ngày 19 tháng 2 năm 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu N là ma túy, loại Methamphetamine; mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.

Cáo trạng số 22/CT - VKS ngày 27 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, đã truy tố Quàng Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai nhận: Tối ngày 16/2/2019, bị cáo mượn xe máy của Quàng Văn T chở bạn đến trung tâm huyện Sốp Cộp chơi, sau khi cùng bạn bè ăn uống tại quán; khoảng 1 giờ ngày 17/2/2019, do có nhu cầu sử dụng ma túy bị cáo đã chở bạn đến quán điện tử, rồi điều khiển xe máy đến bản Púng Báng, xã Sam Kha để tìm mua ma túy; khi đến bản Púng Báng bị cáo gặp người không quen biết qua trao đổi đã mua dược của người này 15 viên ma túy tổng hợp với giá là 500.000 đồng; bị cáo cho gói ma túy vào túi áo đang mặc rồi điều khiển xe máy về trung tâm huyện Sốp Cộp để đón bạn; khi đi đến khu vực bản Hua Mường, xã Sốp Cộp thì bị tổ công tác của Công an huyện Sốp Cộp kiểm tra, phát hiện và bắt giữ.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi trình bầy lời luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; tuyên xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; tịch thu để tiêu hủy mảnh nilon màu đen; 01 phong bì niêm phong ban đầu; 05 viên nén màu hồng.

NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN!

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Bị cáo đã trực tiếp mua và cất dấu 1,425 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng; Hành vi đó đã cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm được quy định tại điều 249 Bộ luật hình sự; số lượng ma túy bị cáo cất dấu là không lớn, do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền về quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội; số lượng ma tuý bị cáo tàng trữ tuy không lớn, nhưng nếu không được ngăn chặn kịp thời chất độc hại này sẽ lây lan, trôi nổi trong xã hội, làm cho tệ nạn ma tuý tại địa phương ngày càng phức tạp, gây mất trật tự an toàn xã hội; Do đó, bị cáo cần phải bị trừng trị thích đáng, nhằm cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[3]Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, chính quyền địa phương nơi cư trú xác nhận ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa lần nào bị xử lý vi phạm do thực hiện hành vi trái pháp luật;

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng;

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; do đó bị cáo sẽ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

[5] Bị cáo phạm tội về ma tuý và là đối tượng sử dụng chất ma tuý, do đó cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo và đoạt tuyệt với ma tuý.

[6] Đối với người đã trực tiếp bán ma túy cho bị cáo là đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải bị xử lý về hình sự, nhưng do không xác định được đối tượng, do đó chưa có căn cứ để xử lý ở vụ án này; đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ và xử lý ở vụ án khác.

[7] Về vật chứng: Vật chứng của vụ án là 1,425 gam Methamphetamine, đã lấy 0,953 gam làm mẫu giám định và đã sử dụng hết trong quá trình giám định; vật chứng còn lại là 01 phong bì niêm phong ban đầu, 01 mảnh nilon màu đen, 5 viên nén màu hồng có khối lượng là 0,472 gam đều là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy; Đối với chiếc xe máy hiệu Honda, loại ABALE, không có biển kiểm soát, là tài sản bị cáo mượn của người khác và chủ sở hữu không biết việc bị cáo dùng vào việc phạm tội, do đó việc cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp với qui định của pháp luật.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý lẽ ra ngoài hình phạt tù bị cáo sẽ phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định của khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự, nhưng xét thấy bị cáo chưa có gia đình riêng và không có tài sản riêng, kinh tế phụ thuộc vào gia đình sẽ không có điều kiện thi hành, do đó có thể xem xét miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về án phí bị cáo phải chịu án phí theo qui định của Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.

Vì các lẽ trên!

!

!

!

QUYẾT!ĐỊNH!

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Tuyên bố: Bị cáo Quàng!Văn!N!phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; xử phạt Quàng Văn N 20(hai mươi) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 17 tháng 2 năm 2019

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì thư niêm phong ban đầu, 01 mảnh nilon màu đen, 5 viên nén màu hồng.

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 04/6/2019 giữa chi cục thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp và Công an huyện Sốp Cộp.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội; buộc bị cáo Quàng Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm./. Nơi!nhận

Cỡ chữ