vanban.org

Bản án 21/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai Tuyên án 30/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Trường G phạm tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “Chống người thi hành công vụ”

Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Trường G - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Trường G phạm tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “Chống người thi hành công vụ”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt tù chung buộc; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHƯ PƯH
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2019/HS-ST
Ngày 30 tháng 8 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Hoàng Liêu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Chu Xuân Toàn

Ông Ông Phạm Văn Nhung

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Trung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Đặng Văn Niên, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2019 tại Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/QĐXXST-HS ngày 15/8/2019 đối với bị cáo:

1. Lê Trường G, (Tên gọi khác: Lê Văn G, G điên), sinh năm: 1980, tại xã HT, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT: Xóm Tân Tiến, xã HT, huyện NĐ, tỉnh Nghệ An; chỗ ở hiện nay: Không có chỗ ở nhất định; giới Th: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; con ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị T; có 01 người con sinh năm 2014; tiền án: 03. Tại bản án số 162/2002/HS-PT ngày 11/3/2002, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, hình phạt chung cho cả hai tội phải chấp hành là 09 năm 06 tháng tù. Ngày 16/8/2010 chấp hành xong hình phạt tù; Tại bản án số 10/2011/HS-ST, ngày 25/3/2011, Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 17/4/2013 chấp hành xong hình phạt tù; Tại bản án số số 183 ngày 28/11/2014, Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 19/3/2018 chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: Không; tạm giữ ngày 01/4/2019, tạm giam từ ngày 09/4/2019 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại: Bà Phan Thị L, sinh năm 1969

Nơi cư trú: Thôn 6, xã IL, huyện CP, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn T, sinh năm 1986 – Phó Trưởng Công an xã Ia Le, huyện CP, tỉnh Gia Lai

Nơi cư trú: Thôn Phú Hoà, xã IL, huyện CP, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

2. Chị Hoàng Thị P, sinh năm 1995

Nơi cư trú: Tổ dân phố 12, thị trấn Chư Sê, huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.

- Những người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Hưng Quất T2, sinh năm 1998

Nơi cư trú: Tổ dân phố 12, thị trấn CS, huyện CS, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

2. Anh Đặng Quang T3, sinh năm 1995

Nơi cư trú: Thôn An Điền, xã IBL, huyện CS, tỉnh Gia Lai. Có mặt

3. Anh Trần Văn H, sinh năm 1983

Nơi cư trú: Thôn 6, xã IL, huyện CP, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

4. Anh Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1995

Nơi cư trú: Thôn Hoà Hiệp, thị trấn NH, huyện CP, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

5. Chị Trần Thị Cẩm N, sinh năm 1988

Nơi cư trú: Thôn Hoà Hiệp, thị trấn NH, huyện CP, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

6. Anh Nguyễn Văn T5, sinh năm 1987

Nơi cư trú: Thôn Phú Hoà, xã IL, huyện CP, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

7. Ông Phạm Ngọc T6, sinh năm 1969

Nơi cư trú: Thôn Phú Hoà, xã IL, huyện CP, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

8. Chị Dương Thị T7, sinh năm 1990

Nơi cư trú: Thôn Phú Hoà, xã IL, huyện CP, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

9. Chị Võ Thị Thanh L1, sinh năm 1990

Nơi cư trú: Thôn 6, xã IL, huyện CP, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vì cho rằng trước đó chị Phan Thị L nói xấu mình vay mượn tiền của chị L (Thực tế qua điều tra, xác minh không có việc vay mượn tiền giữa hai bên) nên vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 01/4/2019, Lê Trường G sau khi uống rượu, bia xong đã đến quán Cơm gà 52 của chị L tại thôn 6, xã IL, huyện Chư Pưh để nói chuyện thì hai bên xảy ra mâu thuẫn. Lúc này, G đã dùng tay, chân đập phá làm hư hỏng, bể vỡ một số tài sản trong quán của chị L gồm: 02 tấm kính cửa tủ lạnh nhãn hiệu Pinimax bị bể vỡ; cánh tủ lạnh nhãn hiệu Samsung bị rách; 10 tấm kính loại 04mm, 02 tấm kính loại 03mm, 03 tấm kính loại 05mm bị bể vỡ; 02 thanh sắt, 01 thanh nhôm, 01 lồng ốp bảo vệ cánh quạt, 02 nồi nhôm, 02 nắp nồi nhôm bị hư hỏng, móp méo; 14 bát sứ các loại, 07 bát nhựa các loại, 08 dĩa nhựa các loại, 01 chậu nhựa, 01 rổ nhựa, 01 ly sứ, 01 chậu hoa bằng sứ bị bể vỡ. Trong lúc Lê Trường G đập phá tài sản trong quán cơm nhà chị L thì có anh Nguyễn T là Phó trưởng công an xã IL mặc trang phục công an xã đến để xác minh, bảo vệ hiện hiện trường vụ việc (Theo lịch trực ngày 01/4/2019 của Công an xã Ia Le) thì G chạy đến chỗ anh T nói “Mày công an xã phải không” rồi G dùng tay đánh nhiều cái vào người anh T và rượt đuổi anh T bỏ chạy khỏi quán cơm, không cho anh T thực hiện nhiệm vụ. Sau khi đánh, đuổi anh T bỏ chạy thì G quay lại cầm 01 viên gạch ném vào trong quán cơm rồi bỏ đi.

Sau sự việc xảy ra, chị Phan Thị L và anh Nguyễn T đã làm đơn trình báo công an. Cơ quan CSĐT Công an huyện Chư Pưh đã tiến hành điều tra xác minh và ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Trường G, G đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 12 ngày 08/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chư Pưh kết luận giá trị tài sản bị thiệt hại của chị L như sau:

+ Giá trị thực tế 02 tấm kính cửa tủ lạnh nhãn hiệu Pinimax diện (132 x 52)cm, loại kính 03mm là 1.200.000 đồng.

+ Giá trị thực tế phần hư hỏng của cánh tủ lạnh nhãn hiệu Samsung bị rách, vết rách diện (09 x 02)cm và lún sâu 0,5cm là 50.000 đồng.

+ Giá trị thực tế phần hư hỏng, móp méo diện (2,5 x 02)cm của thanh sắt vuông, rỗng bên trong cạnh 2,5cm, dài 93cm là 50.000 đồng.

+ Giá trị thực tế phần hư hỏng, móp méo diện (03 x 04)cm của thanh sắt tiết diện tam giác đều, rỗng bên trong cạnh 03cm, dài 45cm là 50.000 đồng.

+ Giá trị thực tế phần hư hỏng, móp méo diện (12 x 2,5 x 01)cm của thanh nhôm tiết diện hình chữ nhật diện (50 x 2,5 x 01)cm là 50.000 đồng.

+ Giá trị thực tế phần hư hỏng, móp méo diện (18 x 05)cm của lồng ốp bảo vệ cánh quạt hiệu Kakashi đường kính 44cm là 100.000 đồng.

+ Giá trị thực tế phần hư hỏng, móp méo diện (02 x 04)cm của nồi nhôm đường kính 27cm, cao 13,5cm là 50.000 đồng.

+ Giá trị thực tế phần hư hỏng, móp méo diện (1,5 x 2,5)cm của nồi nhôm đường kính 27,5cm, cao 12cm là 30.000 đồng.

+ Giá trị thực tế phần hư hỏng, móp méo diện (01 x 1,5)cm của nắp nồi nhôm đường kính 27cm là 30.000 đồng.

+ Giá trị thực tế phần hư hỏng, móp méo diện (1,5 x 06)cm của nắp nồi nhôm đường kính 27,5cm là 30.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 01 tấm kính diện (110 x 52)cm, loại 04mm là 90.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 01 tấm kính diện (135 x 122)cm, loại 04mm là 263.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 02 tấm kính diện (95 x 93)cm, loại 04mm là 282.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 01 tấm kính diện (93 x 35)cm, loại 04mm là 52.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 01 tấm kính diện (95 x 35)cm, loại 04mm là 53.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 01 tấm kính diện (93 x 42)cm, loại 04mm là 63.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 01 tấm kính diện (141,5 x 72,5)cm, loại 04mm là 164.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 01 tấm kính diện (72 x 34,5)cm, loại 04mm là 41.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 01 tấm kính diện (109,5 x 60)cm, loại 04mm là 105.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 01 tấm kính diện (56 x 45)cm, loại 03mm là 40.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 01 tấm kính diện (45 x 29)cm, loại 03mm là 19.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 03 tấm kính diện (110 x 95)cm, loại 05mm là 532.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 01 bát sứ hiệu BT đường kính 20cm, cao 9,5cm là 10.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 02 bát sứ hiệu Nutifood đường kính 18cm, cao 08cm là 15.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 04 bát sứ hiệu Thái Bình đường kính 18cm, cao 07cm là 30.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 03 bát sứ hiệu BT đường kính 20cm, cao 07cm là 30.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 03 bát nhựa đường kính 20cm, cao 06cm là 15.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 04 bát sứ đường kính 15cm, cao 06cm là 20.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 01 chậu nhựa đường kính 34cm, cao 13cm là 18.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 01 rổ nhựa đường kính 33,5cm, cao 12cm là 12.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 02 dĩa nhựa đường kính 25cm là 15.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 03 dĩa nhựa đường kính 13,5cm là 15.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 02 dĩa nhựa đường kính 15cm là 10.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 01 dĩa nhựa đường kính 11,5cm là 7.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 01 ly sứ đường kính 09cm, cao 11cm là 10.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 02 bát nhựa đường kính 09cm, cao 05cm là 10.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 02 bát nhựa đường kính 09cm, cao 03cm là 10.000 đồng.

+ Giá trị thực tế 01 chậu hoa bằng sứ đường kính 27cm, cao 15cm là 50.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là: 3.621.000 đồng (Ba triệu sáu trăm hai mươi mốt ngàn đồng).

Về vật chứng vụ án: Gồm 08 mảnh gạch vỡ với nhiều kích thước khác nhau thu giữ tại hiện trường, xét có liên quan đến vụ án nên yêu cầu Cơ quan CSĐT Công an huyện Chư Pưh chuyển đến Chi cục THADS huyện Chư Pưh để quản lý và xử lý theo vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho chị Phan Thị L số tiền 20.000.000 đồng theo thỏa thuận, chị L đã nhận đủ số tiền trên và có đơn bãi nại cho bị cáo G.

Anh Nguyễn T không có bất kỳ yêu cầu bồi thường gì.

Tại bản cáo trạng số: 18/CT-VKS ngày 15 tháng 7 năm 2019, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Lê Trường G về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 178 và tội “Chống người thi hành công vụ” theo điểm đ khoản 2 Điều 330 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “Chống người thi hành công vụ”. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 178, điểm đ khoản 2 Điều 330, các điểm b, h, s khoản 1 và 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Trường G với mức án từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” và từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và hình phạt bổ sung: Miễn xét

Về vật chứng của vụ án: Tịch thu và tiêu hủy 08 mảnh gạch vỡ với nhiều kích thước khác nhau thu giữ tại hiện trường.

Về án phí: Buộc bị cáo Lê Trường G phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải về việc phạm tội của mình đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chư Pưh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa lời khai của bị cáo phù hợp với những chứng cứ, tài liệu thu thập được có tại hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của những người tham gia tố tụng khác có mặt tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Vào chiều ngày 01/4/2019, vì cho rằng trước đó chị Phan Thị L nói xấu mình vay mượn tiền của chị L nên Lê Trường G đã đến quán cơm gà 52 của chị L tại thôn 6, xã IL, huyện CP, tỉnh Gia Lai để nói chuyện thì hai bên xảy ra mâu thuẫn, G dùng tay, chân, gạch đập phá làm hư hỏng, bể vỡ tài sản của quán chị L với giá trị thiệt hại là 3.621.000 đồng. Khi anh Nguyễn T (Phó trưởng công an xã Ia Le) là người thi hành công vụ đến hiện trường để làm nhiệm vụ thì bị G đánh và rượt đuổi anh T bỏ chạy. G nhận thức và biết được anh T là công an xã đến là để thi hành công vụ vì khi đến hiện trường anh T mặc trang phục công an xã nhưng G đã dùng tay chân đánh, cản trở anh T thi hành công vụ. Hành vi nêu trên của Lê Trường G đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời xâm phạm việc thực hiện nhiệm vụ của người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo về tội “Có ý làm hư hỏng tài sản” theo Điều 178 Bộ luật hình sự và tội “Chống người thi hành công vụ” theo Điều 330 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Lê Trường G đã “Tái phạm”, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự là tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm g khoản 2 Điều 178 và điểm đ khoản 2 Điều 330 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Lê Trường G về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 178 và tội “Chống người thi hành công vụ” theo điểm đ khoản 2 Điều 330 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của nhà nước, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của người thi hành công vụ, gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo ý thức được rằng cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác và chống người thi hành công vụ là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 11/3/2002, bị Tòa phúc thẩm TANDTC tại Đà Nẵng xử phạt 09 năm 06 tháng tù về các tội “Cướp tài sản” và “Cố ý gây thương tích”; ngày 25/3/2011, bị TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 28/11/2014, bị TAND TP. Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng sau khi chấp hành xong hình phạt trở về địa phương bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã tỏ ra thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội đã thực hiện; phạm tội gây thiệt hại không lớn, bị cáo đã tích cực tác động gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và được người bị hại Phan Thị L làm đơn bãi nại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình đối với tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội “Chống người thi hành công vụ” để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Xét Th chất, mức độ của tội phạm và yêu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương cần phải xử phạt tù đối với tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” và tội “Chống người thi hành công vụ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt tù chung buộc bị cáo phải chấp hành.

Về trách nhiệm dân sự: Lê Trường G đã tích cực tác động gia đình bồi thường cho gia đình bà Phan Thị L số tiền 20.000.000 đồng theo thỏa thuận. Đối với anh Nguyễn T không yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Gồm 08 mảnh gạch vỡ với nhiều kích thước khác nhau. Xét thấy, các vật chứng nói trên hiện không còn giá trị sử dụng nên căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Lê Trường G có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Vê án phí: Buộc bị cáo Lê Trường G phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lê Trường G phạm tội “ Cố ý làm hư hỏng tài sản” và “Chống người thi hành công vụ”

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 178; điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Trường G 02 (Hai) năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 330; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Trường G 02 (Hai) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành là 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù Th từ ngày bị cáo bị tạm giữ ngày 01/4/2019 .

2. Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét

3. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu hủy 08 mảnh gạch vỡ với nhiều kích thước khác nhau. Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 17/7/2019 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Chư Pưh với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

5. Về án phí: - Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Trường G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

6. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm; những người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ