vanban.org

Bản án 21/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 14/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phan Quốc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự. Ghi nhận bị hại anh Đặng Hoàng V đã nhận lại tài sản bị mất trộm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đoàn Thanh T đã nhận số tiền bị cáo bồi thường là 5.000.000 đồng. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 201… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Quốc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2019/HS-ST
Ngày: 14/05/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phan Thị Cẩm Tiên

Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nguyễn Hoa Kiều

+ Ông Đặng Phước Lung

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Ngân – Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 05 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2019/TLST-HS ngày 17 tháng 04 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

PHAN QUỐC B ( tên gọi khác Út), sinh ngày 17/09/1998; tại: tỉnh Tiền Giang.

- Nơi cư trú: ấp BPQ, xã ĐHP, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Số CMND: 312352641; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; quốc tịch: V Nam; tôn giáo: không; con ông Phan Văn Danh, sinh năm 1955 và bà Trương Thu Thảo, sinh năm 1968; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự 07. Ngày 03/9/2016, bị Công an huyện Chợ Gạo ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.750.000 đồng về hành dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, đưa tài sản. Ngày 24/10/2016, bị Ủy ban nhân dân xã Song Bình, huyện Chợ Gạo xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi tàng trữ dao, búa nhằm mục đích cố ý gây thương tích. Ngày 17/11/2017, bị Công an xã Đăng Hưng Phước, huyện Chợ Gạo xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 25/1/2018, bị Công an xã Song Bình, huyện Chợ Gạo xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 06/8/2018, bị Ủy ban nhân dân xã Đăng Hưng Phước, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo NĐ 111/CP về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 12/10/2018, bị Công an xã Song Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/02/2019. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Đặng Hoàng V, sinh năm 1988; (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp BPQ, xã ĐHP, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Đoàn Thanh T, sinh năm 1988; (vắng mặt).

Địa chỉ: số 19, khu phố X, phường Y, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có ý định trộm cắp tài sản nên khoảng 22 giờ ngày 22/11/2018, bị cáo Phan Quốc B đi bộ từ nhà tại ấp BPQ, xã Đăng Hưng Phước, huyện Chợ Gạo đến nhà anh Đặng Hoàng V, sinh năm 1988, ngụ cùng ấp để tìm tài sản trộm. Khi đến nơi, bị cáo B thấy nhà anh V không khóa cửa, không người trông coi nên bị cáo vào nhà anh B lấy trộm 01 laptop màu vàng, hiệu ASUS để trong học bàn (loại bàn học sinh). Sau khi lấy trộm, bị cáo thuê xe taxi Mai Linh chở đến cảng cá Mỹ Tho gặp Châu (không rõ họ tên, địa chỉ) cầm laptop vừa trộm với giá 1.000.000 đồng. Số tiền này bị cáo sử dụng vào việc chơi game bắn cá.

Ngày hôm sau, bị cáo điện thoại cho người bạn tên B ở Tân Mỹ Chánh (không rõ họ tên, địa chỉ) mượn 1.000.000 đồng. Sau đó bị cáo thuê xe honda ôm của anh Phan Minh Điền (sinh năm 1986, ngụ ấp Hội Gia, xã Mỹ Phong, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang) chở đến cảng cá Mỹ Tho gặp Châu xin chuộc lại laptop đã cầm với giá 1.000.000 đồng. Sau đó bị cáo tiếp tục thuê anh Điền chở đi bán laptop tại cửa tiệm cầm đồ Ngọc Trang (số 19, khu phố 4, phường 9, thành phố Mỹ Tho) với giá 5.000.000 đồng. Anh Điền bán dùm bị cáo laptop và đưa tiền cho bị cáo. Bị cáo dùng số tiền này trả cho người bạn tên B 1.000.000 đồng, trả tiền xe ôm cho anh Điền 200.000 đồng, số tiền còn lại bị cáo sử dụng vào việc tiêu xài cá nhân.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 120/BKLĐGTS ngày 13/12/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Chợ Gạo xác định 01 laptop màu vàng hiệu ASUS, trị giá 13.540.000 đồng.

Vật chứng trong vụ án: 01 laptop màu vàng hiệu ASUS đã trả lại cho bị hại anh Đặng Hoàng V.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Đặng Hoàng V đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

Anh Đoàn Thanh T yêu cầu bị cáo B bồi thường số tiền 5.000.000 đồng và bị cáo đã bồi thường xong.

Bản cáo trạng số 28/CT-VKSNDCG ngày 16/04/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo truy tố bị cáo Phan Quốc B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phan Quốc B. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

* Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo B từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất trộm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đoàn Thanh T đã nhận lại số tiền 5.000.000 đồng. Về vật chứng: bị hại đã nhận lại 01 laptop màu vàng hiệu ASUS nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

* Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Gạo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức được rằng hành vi lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, vì muốn có tiền tiêu xài, không phải lao động nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại khi vắng nhà, không quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt tài sản là 01 laptop nhãn hiệu ASUS của anh Đặng Hoàng V trị giá 13.540.000 đồng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự thì “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đang ở độ tuổi thanh niên, đủ sức lao động tạo của cải vật chất để phục vụ nhu cầu cá nhân,nuôi sống bản thân, giúp ích cho gia đình, xã hội; nhưng do bản tính lười lao động, chỉ muốn hưởng thụ nên bị cáo đã lợi dụng sự mất cảnh giác của người khác thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi trên không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng đến an ninh, trật tự tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Xét về nhân thân bị cáo có 07 tiền sự về các hành vi là dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh để buộc người khác đưa tiền, đưa tài sản; tàng trữ dao, búa nhằm mục đích cố ý gây thương tích; sử dụng trái phép chất ma túy và trộm cắp tài sản. Bị cáo không những không thay đổi bản thân mà còn có ý thức xem thường pháp luật, tiếp tục trộm cắp tài sản của người khác. Do đó xét thấy cần có mức án thật nghiêm khắc là cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân lương thiện và phòng ngừa chung.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các trường hợp quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 chiếc laptop nhãn hiệu ASUS, màu vàng đã trả lại cho bị hại Đặng Hoàng V nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Đặng Hoàng V đã nhận lại tài sản bị mất trộm và không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử ghi nhận cho bị cáo.

Bị cáo đã bồi thường cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đoàn Thanh T số tiền 5.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với anh Phan Minh Điền là người chạy xe honda ôm. Việc bị cáo B thuê anh Điền chở đi chuộc và bán laptop hiệu ASUS thì anh Điền thực hiện để lấy tiền công và anh Đoàn Thanh T là người mua laptop hiệu ASUS, màu vàng mà bị cáo nhờ anh Điền bán dùm. Cả anh Điền và anh T đều không biết chiếc laptop là do bị cáo B trộm cắp mà có nên không xử lý anh Điền, anh T về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có cơ sở.

Đối với đối tượng tên Châu, B: bị cáo B khai chỉ biết những người này thông qua các mối quan hệ xã hội, không biết rõ họ tên, địa chỉ cụ thể. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Chợ Gạo chưa làm việc được. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, làm rõ và sẽ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét lời luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và hướng giải quyết về xử lý vật chứng là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phan Quốc B phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38 và điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Quốc B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 22/02/2019.

+ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự. Ghi nhận bị hại anh Đặng Hoàng V đã nhận lại tài sản bị mất trộm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Đoàn Thanh T đã nhận số tiền bị cáo bồi thường là 5.000.000 đồng.

+ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

+ Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ