- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị Hồng Vương - Châu Hiếu Thiện"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phan Thị Hồng V. Chị Phan Thị Hồng V được quyền ly hôn anh Châu Hiếu T.
- Căn cứ chính? Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2019/HNGĐ-ST Ngày: 04/4/2019. V/v tranh chấp: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trương Vĩnh Hữu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tám.
Bà Nguyễn Thị Thúy Vân.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Bùi Công Danh, thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liễu, Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý số: 10/2019/TLST-HNGĐ ngày 02/01/2019 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2019/QĐXX-ST ngày 21/02/2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Phan Thị Hồng V, sinh năm 1977; (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố M, phường N, thị xã P, tỉnh Tiền Giang;
2. Bị đơn: Châu Hiếu T, sinh năm 1975; (vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố M, phường N, thị xã P, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Phan Thị Hồng V trình bày: Giữa chị Phan Thị Hồng V và anh Châu Hiếu T kết hôn năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện P, tỉnh Tiền Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm. Chị V và anh T đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến thời điểm hiện tại, cuộc sống vợ chồng tự ai nấy lo, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Vì thế về tình cảm vợ chồng không còn nên chị V yêu cầu được ly hôn anh T;
Về con chung: Có một con chung là Châu Phan Anh T, sinh ngày 03/02/2004. Hiện nay, con chung đang sống cùng chị V, khi ly hôn chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi và lao động được.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Chị Phan Thị Hồng V vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
Anh Châu Hiếu T vắng mặt không lý do;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân Sự. Về nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị Hồng V, quyền nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con. Chị V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Hồng V thì vụ án thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp “Ly hôn” được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Xét trong quá trình thụ lý vụ án, hòa giải và chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Châu Hiếu T theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân Sự, anh T vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân Sự xét xử vắng mặt anh T.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Hồng V được ly hôn anh Châu Hiếu T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào lời trình bày, các chứng cứ do đương sự cung cấp thì giữa chị Phan Thị Hồng V và anh Châu Hiếu T kết hôn năm 2000, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện P, tỉnh Tiền Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2016 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm. Chị V và anh T đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến thời điểm hiện tại, cuộc sống vợ chồng tự ai nấy lo, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau;
Căn cứ vào biên bản xác minh ngày 07/01/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang về tình trạng hôn nhân giữa chị Phan Thị Hồng V và anh Châu Hiếu T đang sống ly thân;
Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Châu Hiếu T nhưng anh T không có ý kiến gì đối với yêu cầu được ly hôn của chị V. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì xem như anh T không có phản đối gì đối với yêu cầu được quyền ly hôn của chị V;
Vì thế Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị V và anh T không còn hạnh phúc, cuộc sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được cho nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phan Thị Hồng V.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Hồng V về con chung và cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ lời trình bày và yêu cầu của chị V thì giữa chị V và anh T có một con chung Châu Phan Anh T, sinh ngày 03/02/2004. Hiện nay, con chung đang sống cùng chị V, khi ly hôn chị V yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi và lao động được;
Căn cứ vào nguyện vọng của con chung Châu Phan Anh T thì con chung muốn sống cùng chị V nên cần tôn trọng ý kiến của con chung;
Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Châu Hiếu T nhưng anh T không có ý kiến gì đối với yêu cầu được nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con của chị V. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì xem như anh T không có phản đối gì đối với yêu cầu này của chị V;
Vì thế Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo cuộc sống ổn định của con chung không bị thay đổi liên tục môi trường nuôi dưỡng sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em, hiện tại con chung do chị V là người đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho nên cần tiếp tục giao con chung Châu Phan Anh T, sinh ngày 03/02/2004 cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi các con đủ 18 tuổi và lao động được.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị Phan Thị Hồng V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, anh Châu Hiếu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang: Chấp nhận yêu cầu được ly hôn, quyền nuôi con chung và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của chị V. Chị V phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm, anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và Gia đình và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân Sự.
Căn cứ các điều 92, 147, 220, 227, 228, 233 Bộ luật Tố tụng Dân Sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Phan Thị Hồng V. Chị Phan Thị Hồng V được quyền ly hôn anh Châu Hiếu T.
2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung Châu Phan Anh T, sinh ngày 03/02/2004 cho chị Phan Thị Hồng V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Châu Hiếu T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000 đồng (một triệu, năm trăm ngàn đồng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và lao động được;
Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Anh Châu Hiếu T được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
Kể từ ngày chị Phan Thị Hồng V có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Châu Hiếu T chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng còn phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân Sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
3. Về án phí: Chị Phan Thị Hồng V phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị V đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002041 ngày 27/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Anh Châu Hiếu T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đối với bị đơn Châu Hiếu T vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND thị xã Cai Lậy; - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy; - Các đương sự; - UBND xã (phường) Lưu: HS, AV | Trƣơng Vĩnh Hữu |