vanban.org

Bản án 21/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mạc Thị T - Nguyễn Tuấn Đ"
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NAM SÁCH
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 31 - 10 - 2019
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Công Đạt

2. Ông Nguyễn Đắc Quýnh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Bách - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị La - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 167/2019/TLST-HNGĐ ngày 26/8/2019 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 20/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/10/2019 giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Chị Mạc Thị T, sinh năm 1996;

HKTT: Thôn L, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng;

Chỗ ở hiện nay: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn Đ, sinh năm 1992;

Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng; vắng mặt.

* Ngƣời làm chứng:

a. Bà Trần Thị T, sinh năm 1962;

Địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng; vắng mặt.

b. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1951;

Địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dƣơng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/8/2019, bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, nguyên đơn chị Mạc Thị T trình bày:

Chị và anh Nguyễn Tuấn Đ đăng ký kết hôn ngày 13/11/2017 tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện N trên cơ sở tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo phong tục tập quán địa phƣơng. Sau ngày cƣới, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ anh Đ ở thôn L, xã H, huyện N. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đƣợc gần một năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, anh Đ sống không tự lập và không quan tâm đến chị. Sau khi chị sinh con thì mâu thuẫn trầm trọng hơn. Anh Đ đƣa chị và con về nhà bố mẹ đẻ chị ở thôn T, xã N, huyện N ở, nhƣng rất ít khi liên lạc và sang thăm chị và con, cũng không có ý định đón chị về. Khoảng gần 03 tháng sau chị về bên bố mẹ đẻ thì anh Đ cắt Amidan, chị đã tự đƣa con về nhà chồng mục đích để chăm sóc anh Đ, nhƣng anh Đ vẫn tỏ thái độ thờ ơ, không quan tâm đến chị và con. Vợ chồng thƣờng xuyên xảy ra bất đồng về vấn đề kinh tế và ứng xử trong gia đình, dẫn tới không nói chuyện đƣợc với nhau. Tháng 12/2018 chị đƣa con về nhà bố mẹ đẻ chị ở hẳn. Vợ chồng sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Nay xác định vợ chồng không còn tình cảm và không thể về chung sống với nhau đƣợc nên đề nghị tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 02/9/2018 hiện đang do chị trực tiếp nuôi dƣỡng. Khi ly hôn, chị đề nghị đƣợc tiếp tục nuôi con và tự nguyện không yêu cầu anh Đ cấp dƣỡng nuôi con chung với chị. Lý do, chị xin nuôi con vì cháu M còn nhỏ. Từ bé đến nay cháu M do chị nuôi dƣỡng. Hiện tại chị làm ở Phòng kỹ thuật, công ty TNHH may mặc quốc tế P. Mức thu nhập bình quân khoảng 7,5 triệu đồng/tháng. Chị và con chị đang ở nhà bố mẹ đẻ. Nhà 02 tầng, rộng rãi; bố mẹ chị cũng tạo điều kiện cho chị và con đƣợc ở cùng và hỗ trợ chị trong việc chăm sóc con nếu chị đƣợc nuôi cháu. Chị hoàn toàn có đủ khả năng để chăm sóc tốt cho con. Còn anh Đ không quan tâm, chăm sóc gì đến con. Hiện tại cũng chƣa có việc làm và sống phụ thuộc vào bố mẹ nên không đủ khả năng để nuôi dƣỡng con.

Về quan hệ tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai, biên bản hòa giải và các tài liệu anh Đ cung cấp cho Tòa án, anh Nguyễn Tuấn Đ trình bày thống nhất nội dung về thời gian, điều kiện kết hôn nhƣ chị T trình bày. Anh Đ cũng thừa nhận sau khi chị T sinh con, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính cách không hợp, bất đồng liên quan đến vấn đề kinh tế và cách ứng xử trong gia đình. Sau khi chị T sinh con lại đƣa con về nhà đẻ sống, sau đó không chịu về nhà. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay và không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T xin ly hôn, anh thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đồng ý ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh xác định vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 02/9/2018. Hiện con chung đang do chị T trực tiếp nuôi dƣỡng. Nếu ly hôn, anh đề nghị đƣợc nuôi con và tự nguyện không yêu cầu chị T cấp dƣỡng nuôi con chung với anh.

Về quan hệ tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Những ngƣời làm chứng: Bà Trần Thị T - là mẹ đẻ chị T, ông Nguyễn Văn M - là bố đẻ anh Đ trình bày xác nhận vợ chồng chị T, anh Đ có mâu thuẫn, bất đồng và đã sống ly thân từ tháng 12/2018 đến nay nhƣ nội dung chị T, anh Đ trình bày. Gia đình hai bên đã động viên hòa giải mâu thuẫn để vợ chồng về đoàn tụ nhƣng không đƣợc. Nay chị T xin ly hôn, quan điểm của hai gia đình là không mong muốn việc này xảy ra, nhƣng nếu chị T, anh Đ cứ cƣơng quyết thì đó là quyền của anh chị ấy. Về con chung: Bà T xác định nếu vợ chồng chị T, anh Đ ly hôn thì giao cháu M cho chị T nuôi dƣỡng sẽ thuận lợi và tốt cho cháu hơn và gia đình bà cũng sẽ tạo điều kiện thuận lợi để chị T nuôi dƣỡng tốt cháu M. Ông M không muốn chị T và anh Đ ly hôn nên không có ý kiến về vấn đề nuôi con của chị T, anh Đ.

Tại phiên toà: Chị T giữ nguyên quan điểm xin đƣợc ly hôn anh Đ và đề nghị tiếp tục nuôi con. Chị tự nguyện không yêu cầu anh Đ phải cấp dƣỡng nuôi con với chị.

Anh Đ vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách trình bày: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thƣ ký trong quá trình thu thập chứng cứ, ngƣời tiến hành tố tụng tại phiên toà chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Mạc Thị T đƣợc ly hôn anh Nguyễn Tuấn Đ. Về quan hệ con chung: Xử giao con chung là Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 02/9/2018 cho chị Mạc Thị T tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị T tự nguyện không yêu cầu anh Đ phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị. Anh Nguyễn Tuấn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở anh Đ thực hiện quyền này. Về quan hệ tài sản: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

nhËn ®Þnh cña tßa ¸n:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đƣơng sự, ngƣời làm chứng đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn Tuấn Đ vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt anh Đ.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Đ kết hôn với nhau ngày 13/11/2017 trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện N. Do vậy, hôn nhân của chị T và anh Đ là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đƣợc gần một năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tình cách không hợp, bất đồng quan điểm về vấn đề kinh tế và cách ứng xử trong gia đình dẫn tới thƣờng xuyên bất đồng, không nói chuyện đƣợc với nhau. Vợ chồng sống ly thân và không còn quan tâm đến nhau từ tháng 12/2018 đến nay. Hội đồng xét xử thấy r ng việc chị T, anh Đ không sống chung; không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; c ng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Do vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu của chị T xin ly hôn với anh Đ.

[3] Về con chung: Chị Mạc Thị T và anh Nguyễn Tuấn Đ có 01 con chung là Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 02/9/2018. Hiện tại con chung đang do chị T trực tiếp nuôi dƣỡng. Cả chị T và anh Đ đều có nguyện vọng đƣợc nuôi dƣỡng con chung. Tuy nhiên, cháu M còn nhỏ, dƣới 36 tháng tuổi. Chị T cũng đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con. Thực tế, chị T vẫn nuôi dƣỡng tốt đối với cháu M từ nhỏ đến nay. Do vậy, căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu của chị T, giao con chung Nguyễn Ngọc M cho chị T tiếp tục nuôi dƣỡng để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của cháu M. Chị T tự nguyện không yêu cầu anh Đ phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị nên anh Đ không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị T. Anh Đ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở.

[4] Về quan hệ tài sản chung: Chị T, anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

[5] Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

V× c¸c lÏ trªn,

QuyÕt ®Þnh:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Mạc Thị T đƣợc ly hôn anh Nguyễn Tuấn Đ.

2. Về quan hệ con chung: Xử giao con chung là Nguyễn Ngọc M, sinh ngày 02/9/2018 cho chị Mạc Thị T đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị T tự nguyện không yêu cầu anh Đ phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị.

Anh Nguyễn Tuấn Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở anh Đ thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị Mạc Thị T phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà chị T đã nộp theo biên lai thu số: AA/2017/0008354, ngày 26/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dƣơng. Chị T đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết.

Cỡ chữ