vanban.org

Bản án 21/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, xử cho bà Phạm Thị H và ông Huỳnh Văn Đ được ly hôn với nhau.

Về con chung: Giao cháu Huỳnh Thị Mỹ Hoa, sinh ngày 02/02/2004 cho bà Hương trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi; giao cháu Huỳnh Thị Mỹ Nở, sinh ngày 03/12/2006 cho ông Điểu trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi; không ai phải cấp dưỡng nuôi con. “Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, xử cho bà Phạm Thị H và ông Huỳnh Văn Đ được ly hôn với nhau.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO LÂM
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2019/HNGĐ-ST
Ngày 04/7/2019.
Về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO LÂM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn L .

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà: Nguyễn Thị T .

2. Bà: Lê Thị S .

Thư ký phiên tòa: Bà Ka H– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng.

Hôm nay, ngày 04 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 88/2019/TLHNGĐ-ST ngày 12/4/2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2019/QĐHNGĐ-ST ngày 24/5/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H , sinh năn 1974; địa chỉ: Thôn 02, xã B, huyện B , tỉnh Lâm Đồng (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn Đ , sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn 02, xã B, huyện B , tỉnh Lâm Đồng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Tại đơn khởi kiện ngày 12/4/2019, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày:

* Về quan hệ hôn nhân: Bà Hương và ông Điểu có tìm hiểu yêu nhau được 01 năm thì quyết định đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hoài Châu Bắc, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định vào ngày 03/01/1992. Hôn nhân tự nguyện, không ai ép buộc gì, được gia đình hai bên đồng ý, có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2011 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và mâu thuẫn về việc làm ăn kinh tế gia đình, ông Điểu hay uống rượu, đánh đập bà và các con. Vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm ai, nay tình cảm vợ chồng không còn . Do vậy, bà Hương xin được ly hôn với ông Điểu.

* Về con chung: Vợ chồng có 04 người con chung gồm Huỳnh Thị Huy, sinh ngày 23/10/1992; Huỳnh Thị Mỹ Phương, sinh ngày 04/7/1993; Huỳnh Thị Mỹ Hoa, sinh ngày 02/02/2004 và Huỳnh Thị Mỹ Nở, sinh ngày 03/12/2006. Ly hôn bà Hương có nguyện vọng nhận nuôi cháu Huỳnh Thị Mỹ Hoa, không yêu cầu ông Điểu cấp dưỡng nuôi con. Bà Hương đồng ý giao cháu Huỳnh Thị Mỹ Nở cho ông Điểu nuôi dưỡng, bà Hương không cấp dưỡng nuôi con. Còn cháu Huy và Phương đã trưởng thành, có công việc ổn định, đã lập gia đình, không mất năng lực hành vi dân sự nên tôi không yêu cầu gì.

* Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Về nợ chung: Không có.

Tòa án đã triệu tập ông Điểu nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc, tại các biên bản tống đạt thể hiện ông đồng ý ly hôn, ngoài ra không có bản khai nào của ông Điểu.

Do vụ án không tiến hành thu thập chứng cứ theo khoản 2 Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự, nội dung tranh chấp không thuộc quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm không tham gia phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ông Điểu vắng mặt, bà Hương có đơn đề nghị vắng mặt nên áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hương và ông Điểu có tìm hiểu yêu nhau được 01 tháng thì quyết định đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hoài Châu Bắc, huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định vào ngày 03/01/1992; hôn nhân tự nguyện, không ai ép buộc gì nên quan hệ hôn nhân của ông bà là hợp pháp.

Quá trình chung sống, bà Hương cho rằng vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và làm ăn kinh tế gia đinh, ông Điểu hay nhạu và đánh vợ, con dẫn đến không hạnh phúc, hiện nay vợ chồng đã ly thân, bà Hương không còn tình cảm với ông Điều nữa và cương quyết ly hôn.

Ông Điểu đã được Tòa án thông báo hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc, không tham gia phiên hòa giải và khi xét xử vụ án. Điều này cho thấy ông Điểu bỏ mặc hôn nhân của mình, không có bất kỳ động thái nào níu kéo, cứu vãn hôn nhân của mình, tại các biên bản tống đạt trực tiếp thể hiện ông Điểu đồng ý ly hôn. Từ đó, cho thấy hôn nhân của bà Hương, ông Điểu đã trầm trọng, không thể hàn gắn được với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 cần chấp nhận yêu cầu bà Hương, xử cho bà Hương và ông Tiến được ly hôn với nhau.

Về con chung: Việc giao con cho ai cần phải xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con. Xét thấy bà Hương có nguyện vọng nhận nuôi cháu Huỳnh Thị Mỹ Hoa, đồng ý giao cháu Huỳnh Thị Mỹ Nở cho ông Điểu nuôi dưỡng, cháu Hoa có nguyện vọng ở với bà Hương, còn cháu Nở có nguyện vọng ở với ông Điểu nên cần chấp nhận giao cháu Hoa cho bà Hương nuôi dương, giao cháu Nở cho ông Điểu nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà Hương phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH :

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, xử cho bà Phạm Thị H và ông Huỳnh Văn Đ được ly hôn với nhau.

2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Thị Mỹ Hoa, sinh ngày 02/02/2004 cho bà Hương trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi; giao cháu Huỳnh Thị Mỹ Nở, sinh ngày 03/12/2006 cho ông Điểu trực tiếp nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi; không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

“Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn cũng như việc thăm nom, chăm sóc con theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.”

3. Về án phí: Buộc bà Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2016/0012887 ngày 12/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng (Bà Hương đã nộp xong).

4. Về quyền kháng cáo: Bà Hương, ông Điểu được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ