vanban.org

Bản án 21/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Q JACCS (do anh Trương Quốc B đại diện).

Chị Trần Thị L còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh với mức lãi suất nợ quá hạn trên số nợ gốc 17.211.113đ theo hợp đồng vay vốn số 57050000008378000 ngày 14/8/2018, kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong. Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Hợp đòng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Q JACCS (do anh Trương Quốc B đại diện).
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 21/2019/DS-ST
Ngày 17/7/2019.
Về việc: “Tranh chấp về Hợp đồng
tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Hoàng Huy Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Quốc Hùng

2. Bà Lê Thị Thường

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng; Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham dự phiên

tòa: Không tham gia.

Vào ngày 17 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, An Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ kiện dân sự thụ lý số 36/2019/TLST-DS, ngày 05 tháng 3 năm 2019; Về việc: "Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng", theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2019/QĐST-DS ngày 20/6/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Q JACCS (JIVF);

Trụ sở: Đường M, phường N, Quận A, TP Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Quốc B, sinh năm 1984; Nơi cư trú: ấp Hòa Tây A, xã Phú Thuận, huyện Thoại Sơn, An Giang. Theo văn bản ủy quyền số 528 ngày 31/12/2018.

2. Bị đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1980;

Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện TS, An Giang.

(Vắng mặt bị đơn chị Trần Thị L; Đã tống đạt hợp lệ)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Q Jaccs ngày 21/02/2019 và lời khai của anh Trương Quốc B trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà có nội dung như sau: Vào ngày 14/8/2018 chị Trần Thị L có ký hợp đồng vay vốn số 57050000008378000 với công ty Q (viết tắt là JIVF) để vay số tiền là 20.000.000đ, tín chấp, lãi suất là 4,12%/tháng, mục đích là để mua xe, hình thức trả dần mỗi tháng. Quá trình thực hiện hợp đồng thì chị Loan chỉ trả được vốn và lãi là 4.310.871đ và đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, phía công ty JIVF đã nhiều lần tạo điều kiện cho thanh toán số nợ nhưng đã không thực hiện và luôn tìm cách lánh mặt cho đến nay.

Nay Công ty JIVF yêu cầu chị Trần Thị L có trách nhiệm thanh toán số vốn gốc, lãi phát sinh và các khoản phí tạm tính đến ngày 17/7/2019 tổng cộng là 23.806.652đ và lãi suất phát sinh đến khi thanh toán xong.

* Về phía bị đơn chị Trần Thị L thì: Tòa án đã nhiều lần gửi Thông báo, giấy mời đến Tòa án để tạo điều kiện cho gặp phía đại diện nguyên đơn và các đương sự trong vụ án để hòa giải và đối chiếu các khoản nợ nhưng tất cả các lần đều vắng mặt không lý do. Qua thu thập chứng cứ xác định được rằng chị Trần Thị L có hộ khẩu thường trú tại địa phương thuộc ấp Hòa Thành, xã Định Thành, huyện Thoại Sơn, An Giang nhưng không thường xuyên có mặt tại địa phương nên Tòa án đã tiến hành thực hiện các thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ kiện và được thẩm tra tại phiên tòa, qua tranh luận công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận xét như sau:

Về tố tụng: Đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng phục vụ cho tiêu dùng nên tranh chấp thuộc khoản 3 Điều 26, căn cứ Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn thụ lý đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, bị đơn là chị Trần Thị L vắng mặt không lý do nhưng đã tống đạt hợp lệ nên căn cứ khoản 2 Điều 227 thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành phiên tòa.

Về nội dung:

Về quan hệ hợp đồng tín dụng: Xét hợp đồng vay vốn số 57050000008378000 ngày 14/8/2018 được ký giữa chị Trần Thị L với Công ty tài chính Q (viết tắt là JIVF) đã đủ cơ sở để xác định: chị Trần Thị L có vay của Công ty JIVF khoản tiền là 20.000.000đ, thời hạn vay là 12 tháng và lãi suất 4,1772%/tháng. Theo đại diện Công ty JIVF thì đến thời điểm hiện tại chị Trần Thị L còn nợ vốn gốc là 17.211.113đ và yêu cầu thanh toán dứt điểm, trong khi đó bị đơn chị Trần Thi L không đưa ra được chứng cứ khách quan đã thanh toán xong số nợ và đồng thời tại phiên tòa cũng không có ý kiến phản bác. Do đó, theo yêu cầu thanh toán nợ của Công ty JIVF là có cơ sở và phù hợp pháp luật nên được chấp nhận và buộc chị Trần Thi L có trách nhiệm thanh toán nợ cho Công ty JIVF theo yêu cầu.

Ngoài ra, do chị Trần Thị L chậm thanh toán nên đã vi phạm nghĩa vụ theo cam kết, do đó phía nguyên đơn yêu cầu thanh toán lãi chậm thanh toán theo bản chiết tính đến ngày 17/7/2019 với số tiền tổng cộng là 6.595.539đ, đồng thời yêu cầu tính lãi phát sinh đến khi thanh toán xong số nợ. Xét thấy, việc thỏa thuận lãi suất theo hợp đồng tín dụng nêu trên phù hợp với khoản 2 Điều 91 và Điều 94 của Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Thông tư 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng nhà nước nên yêu cầu của phía nguyên đơn được chấp nhận và buộc chị Trần Thị L có trách nhiệm trả vốn, lãi cho nguyên đơn là phù hợp.

Về án phí, lệ phí sơ thẩm: Do chị Trần Thị L bị buộc trách nhiệm trả nợ cho Công ty JIVF nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 179, khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 309 và Điều 310 của Bộ luật dân sự 2015; Khoản 2 Điều 91, Điều 94, khoản 2 Điều 95 của luật các tổ chức tín dụng 2010; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

- Xử:

+ Chấp nhận yêu cầu của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Q JACCS (do anh Trương Quốc B đại diện). Buộc chị Trần Thị L có trách nhiệm trả cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Q Jaccs số tiền vốn, lãi tổng cộng là 23.806.652đ (Hai mươi ba triệu tám trăm lẻ sáu ngàn sáu trăm năm mươi hai đồng).

+ Chị Trần Thị L còn phải tiếp tục chịu lãi phát sinh với mức lãi suất nợ quá hạn trên số nợ gốc 17.211.113đ theo hợp đồng vay vốn số 57050000008378000 ngày 14/8/2018, kể từ ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong.

- Về án phí, lệ phí sơ thẩm:

+ Chị Trần Thị L phải chịu 1.190.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

+ Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên Q JACCS không phải chịu án phí nên được hoàn lại 500.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000007 ngày 05/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, An Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Báo cho các đương sự có mặt tham dự phiên tòa biết có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người vắng mặt tại phiên tòa hoặc vắng mặt khi tuyên án (có lý do chính đáng) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày tống đạt bản án hợp lệ.

Cỡ chữ