vanban.org

Bản án 21/2019/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm” của anh Đỗ Văn T đối với anh Phạm Đức T1 và anh Nguyễn Sơn T2.

Buộc anh Phạm Đức T1 và anh Nguyễn Sơn T2 có nghĩa vụ liên đới bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho anh Đỗ Văn T với tổng số tiền là 2.516.500đ (Hai triệu năm trăm mười sáu nghìn năm trăm đồng). Trong đó anh Phạm Đức T1 phải bồi thường số tiền là 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng)… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn: Anh Đỗ Văn T; Bị đơn: Anh Phạm Đức T1, anh Nguyễn Sơn T2"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm” của anh Đỗ Văn T đối với anh Phạm Đức T1 và anh Nguyễn Sơn T2.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN DƯƠNG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2019/DS-ST
Ngày: 22/7/2019
Về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại
do tài sản bị xâm phạm

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ma Thị Tuyết Mai.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dương Thị Sơn.

2. Ông Ngô Cao Lâm.

- Thư ký phiên toà: Bà Ma Thị Vân Kiều - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiếm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hữu Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 22/7/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2018/TLST - DS, ngày 14/12/2018 về “Kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2019/QĐXXST - DS, ngày 10/6/2019; quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2019/QĐST-DS, ngày 28/6/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Đỗ Văn T, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn A, xã K, huyện S (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

- Bị đơn:

1. Anh Phạm Đức T1, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn Q, xã N, huyện S (vắng mặt).

2. Anh Nguyễn Sơn T2, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn P (nay là thôn V), xã L, huyện S (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai - Nguyên đơn Đỗ Văn T trình bày:

Ngày 24/7/2018, có một nhóm thanh niên đến quán hát Karaoke tại thôn A, xã K, huyện S do anh làm chủ để hát. Sau đó nhóm người này gây rối và đập phá một số tài sản của gia đình anh gồm 01 tivi Sony 40 inch, 01 điện thoại di động đen trắng, 01 tấm kính cửa quầy lễ tân, 04 tấm kính bàn uống nước và 01 ổ khóa nhãn hiệu Việt Tiệp. Cơ quan điều tra công an huyện Sơn Dương đã tiến hành điều tra và xác định anh Phạm Đức T1 và anh Nguyễn Sơn T2 là hai đối tượng trực tiếp gây thiệt hại về tài sản cho gia đình anh. Tuy nhiên do chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định không khởi tố vụ án Hình sự. Nhưng từ đó đến nay, anh T1 và anh T2 chưa bồi thường thiệt hại về tài sản cho gia đình anh. Vì vậy, anh làm đơn khởi kiện vụ án dân sự và đề nghị anh Phạm Đức T1 và anh Nguyễn Sơn T2 có trách nhiệm bồi thường cho anh khoản tiền thiệt hại về tài sản và giảm sút kinh doanh là 41.000.000đ (Bốn mươi mốt triệu đồng).

Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Đỗ Văn T chỉ đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Phạm Đức T1 và anh Nguyễn Sơn T2 bồi thường thiệt hại tài sản theo giá trị kết luận của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã báo gọi anh Phạm Đức T1 và anh Nguyễn Sơn T2 đến để giải quyết nhưng đều không có mặt. Qua xác minh tại địa phương thì hiện nay anh Phạm Đức T1 vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Còn anh Nguyễn Sơn T2 vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại xã L, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.

Theo lời khai của ông Phạm Văn T3 (là bố đẻ của anh Phạm Văn T1) và ông Nguyễn Mạnh N1 (là bố đẻ của anh Nguyễn Sơn T2) thì anh T1 và anh T2 sống chung với gia đình, gia đình các ông có nhận được các văn bản, giấy tờ của Tòa án và đã thông báo lại cho T1 và T2, nhưng do bận công việc làm ăn nên không đến giải quyết vụ án theo triệu tập của Tòa án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đều đảm bảo đúng quy định.

Về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 26, 147, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 584, 585, 587, 589 và 468 Bộ luật dân sự ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đỗ Văn T, buộc anh Phạm Đức T1 và anh Nguyễn Sơn T2 phải liên đới bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho anh T với số tiền là 2.516.500đ (Hai triệu năm trăm mười sáu nghìn năm trăm đồng), trong đó Phạm Đức T1 bồi thường số tiền là 1.800.000đ, Nguyễn Sơn T2 bồi thường số tiền là 716.500đ; anh Phạm Đức T1 và anh Nguyễn Sơn T2 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Theo cung cấp của Công an xã N, huyện S, tỉnh Tuyên Quang thì anh Phạm Đức T1 có hộ khẩu thường trú tại thôn Q, xã N, huyện S. Anh T1 vẫn làm ăn, sinh sống tại xã N; theo cung cấp của Công an xã L, huyện S, tỉnh Tuyên Quang thì anh Nguyễn Sơn T2 có hộ khẩu thường trú tại thôn P (nay là thôn V), xã L, huyện S. Anh T2 vẫn làm ăn, sinh sống tại xã L, huyện S.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập, niêm yết các văn bản tố tụng nhưng anh T1 và anh T2 vẫn không đến làm việc, đây được xem là trường hợp người bị kiện cố tình che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Về xem xét yêu cầu của Nguyên đơn:

Tại đơn khởi kiện, Nguyên đơn là anh Đỗ Văn T yêu cầu anh Phạm Đức T1 và anh Nguyễn Sơn T2 bồi thường do tài sản bị thiệt hại và bị giảm sút kinh doanh với tổng số tiền là 41.000.000đ (Bốn mươi mốt triệu đồng). Sau đó, tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T rút một phần yêu cầu khởi kiện và chỉ đề nghị được bồi thường theo kết luận giá trị tài sản do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương điều tra, xác minh.

HĐXX thấy rằng, các tài liệu thu thập được tại cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Sơn Dương thể hiện: Ngày 24/7/2018, Phạm Đức T1 và Nguyễn Sơn T2 đã có hành vi hủy hoại tài sản tại quán Karaoke Bờ Hồ thuộc thôn A, xã K, huyện S của anh Đỗ Văn T. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại được Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện Sơn Dương kết luận tại Kết luận số 93/KL-HĐTTHS, ngày 14/8/2018 là 2.516.500đ (Hai triệu năm trăm mười sáu nghìn năm trăm đồng) gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đen trắng có giá trị còn lại là 280.000đ; 01 màn hình tivi nhãn hiệu SONI 40 inch có giá trị còn lại là 1.800.000đ; 04 tấm kính bàn uống nước có giá trị còn lại là 324.000đ; 01 tấm kính trắng cửa quầy có giá trị còn lại là 87.500đ và 01 ổ khóa Việt Tiệp có giá trị còn lại là 25.000đ. Cơ quan điều tra cũng đã xác định Phạm Đức T1 có hành vi hủy hoại tài sản là màn hình tivi của anh Đỗ Văn T với giá trị thiệt hại là 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng); Nguyễn Sơn T2 có hành vi hủy hoại các tài sản còn lại với tổng giá trị thiệt hại là 716.500đ (Bảy trăm mười sáu nghìn năm trăm đồng). Do giá trị tài sản bị thiệt hại chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên ngày 24/9/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương đã ban hành Quyết định không khởi tố vụ án hình sự và gửi đến các đối tượng liên quan, đồng thời hướng dẫn anh Đỗ Văn T khởi kiện vụ án dân sự tại Tòa án.

Như vậy, có đủ cơ sở để xác định anh Phạm Đức T1 và anh Nguyễn Sơn T2 đã làm thiệt hại tài sản của anh Đỗ Văn T và việc anh Đỗ Văn T yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm theo giá trị mà cơ quan điều tra đã điều tra, xác minh là có căn cứ và cần được chấp nhận. Do đó, anh Phạm Đức T1 và anh Nguyễn Sơn T2 có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho anh Đỗ Văn T tổng số tiền là 2.516.500đ (Hai triệu năm trăm mười sáu nghìn năm trăm đồng), trong đó anh T1 phải bồi thường số tiền là 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng); anh T2 phải bồi thường số tiền là 716.500đ (Bảy trăm mười sáu nghìn năm trăm đồng).

Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Phạm Đức T1 và anh Nguyễn Sơn T2 phải nộp án phí đối với khoản tiền phải thanh toán cho anh Đỗ Văn T; anh Đỗ Văn T không phải chịu án phí và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 147, 228, 235, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 584, 585, 587, 589 và 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm” của anh Đỗ Văn T đối với anh Phạm Đức T1 và anh Nguyễn Sơn T2.

Buộc anh Phạm Đức T1 và anh Nguyễn Sơn T2 có nghĩa vụ liên đới bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho anh Đỗ Văn T với tổng số tiền là 2.516.500đ (Hai triệu năm trăm mười sáu nghìn năm trăm đồng). Trong đó anh Phạm Đức T1 phải bồi thường số tiền là 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng); anh Nguyễn Sơn T2 phải bồi thường số tiền là 716.500đ (Bảy trăm mười sáu nghìn năm trăm đồng).

Khoản tiền phải thanh toán kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và anh Đỗ Văn T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Phạm Đức T1 và anh Nguyễn Sơn T2 chậm trả thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phạm Đức T1 và anh Nguyễn Sơn T2 phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Chia ra mỗi người phải nộp 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

Anh Đỗ Văn T không phải chịu án phí và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.025.000đ (Một triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai số 000709, ngày 12/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ