vanban.org

Bản án 21/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 21/05/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Giao bị cáo Đồng Khánh H cho UBND phường 5, thành phố Đ, tỉnh T giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1, Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đồng Khánh Hưng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Giao bị cáo Đồng Khánh H cho UBND phường 5, thành phố Đ, tỉnh T giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
TỈNH QUẢNG TRỊ
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2018/HS-ST
Ngày 17-5-2018
Vụ: Đồng Khánh H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vũ Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Xuân H.
Bà Võ Thị Trúc Mai.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Thanh Khánh - Thư ký Tòa án.
Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.
ngày 16 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2018/QĐXXST-HS
ngày 07 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Quảng Trị; nơi cư trú: khu phố 2, phường 5, thành phố Đ, tỉnh T; nghề nghiệp: không
có; trình độ văn hoá (học vấn) 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không
có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng Hữu Á và bà Nguyễn Thị Hồng V; chưa có
vợ, con.
Tiền án, tiền sự: không có.
phiên tòa.
5, thành phố Đ, tỉnh T, vắng mặt.
1989; địa chỉ: khu phố 1, phường 5, thành phố Đ, tỉnh T, vắng mặt.
Ngày 17 tháng 5 năm 2018, tại Hội trường khu phố 5, phường 5, thành phố
Đồng Khánh H, tên gọi khác: Cu Em, sinh ngày 27 tháng 7 năm 1993 tại

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khảng 02 giờ ngày 03/01/2018, sau khi chơi game ở quán Internet Bon Bon, địa chỉ: 190 Tôn Thất Thuyết, thành phố Đông Hà, Đồng Khánh H nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của gia đình mang đi cầm cố. H đi bộ về nhà ở khu phố 2, phường 5, thành phố Đông Hà trèo qua cổng, vào bên trong quan sát, thấy xe mô tô hiệu Honda Airblade BKS 74C1-00834 của chị Đồng Thị Khánh H đang dựng trong sân. H mở cổng dắt xe ra ngoài đưa đến quán Internet Bon Bon cầm cố cho anh Nguyễn Đăng D với giá 3.000.000đồng.

Tại bản kết luận số 18/KLĐGTS ngày 11/01/2018, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đông Hà xác định giá trị còn lại của xe mô tô hiệu Honda Airblade BKS 74C1-00834 là 15.200.000đồng.

Cáo trạng số 25/CT-VKS- ĐH ngày 16/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố Đồng Khánh H về tội "Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà giữ nguyên cáo trạng đã truy tố và đề nghị: áp dụng khoản 1Điều 173; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 03/01/2018, Đồng Khánh H đã có hành vi trèo qua cổng, vào nhà, lén lút chiếm đoạt của chị Đồng Thị Khánh H 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade trị giá 15.200.000đồng. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, điều luật quy định: “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng… thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trên địa bàn và nguy hiểm cho xã hội nên cần xử phạt nghiêm.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét tính chất, hành vi, tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy rằng: bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu, do đó, không cần phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà cho hưởng án treo cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã trả lại cho bị hại; đối với số tiền bị cáo nhận từ anh Nguyễn Đăng D, gia đình bị cáo đã trả số tiền 3.000.000đồng cho anh Nguyễn Đăng D, chị H và anh D không có ý kiến gì thêm nên HĐXX không xem xét.

Đối với 01 USB có ghi lại hình ảnh phạm tội của bị cáo là chứng cứ của vụ án nên tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đồng Khánh H; tên gọi khác: (Cu Em): 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Đồng Khánh H cho UBND phường 5, thành phố Đ, tỉnh T giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1, Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

2. Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Cỡ chữ