vanban.org

Bản án 21/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 20/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn M phạm tội đánh bạc.

Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng ( Mười triệu đồng ) để sung quỹ Nhà nước. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn M phạm tội đánh bạc.
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN KHÁNH
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:17/2018/HS-ST
Ngày 15-6 -2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN KHÁNH, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Chiến.

Bà Đinh Thị Hải Vân

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Khanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Khánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 14/2018/ TLST- HS ngày 13 tháng 4 năm 2018, theo Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:

Bùi Văn M, sinh năm 1964 tại tỉnh Ninh Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và và chỗ ở hiện nay: Thôn C 4, xã C, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T và bà Vũ Thị G (đều đã chết); vợ Lê Thị X, có 02 con lớn sinh năm 1987, con nhỏ sinh năm 1990.

Tiền án: Bản án số 21/2010/HSST ngày 16/9/2010, Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh xử phạt M 12 tháng cải tạo không giam giữ, phạt bổ sung 4.000.000 đồng về tội đánh bạc (số tiền sử dụng đánh bạc là 13.000.000 đồng). Bị cáo đã chấp hành xong bản án ngày 25/2/2018.

Tiền sự: Không

Lịch sử bản thân: Ngày 28/6/2002, Công an huyện Yên Khánh ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 32 về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền 500.000 đồng.

Bị cáo Bùi Văn M đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Trịnh Văn Đ - Sinh năm 1972; có mặt.

+ Ông Đinh Văn B- Sinh năm 1978; vắng mặt.

+ Ông Bùi Văn K - Sinh năm 1965; có mặt.

Đều trú tại: Thôn C 4, xã C, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

+ Anh Lã Văn L - Sinh năm 1990; có mặt.

+ Ông Đinh Văn K1 - Sinh năm 1974; có mặt.

Đều trú tại: Thôn C 3, xã C, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

+ Anh Trịnh Xuân T1 - Sinh năm 1981; trú tại: Thôn T, xã C, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình; có mặt.

- Người làm chứng:

+ Ông Đinh Ngọc Q – Sinh năm 1973; trú tại: Xóm 4, xã C, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 03/01/2018, Đinh Văn K, sinh năm 1974; Trịnh Văn Đ, sinh năm 1972; Bùi Văn K, sinh năm 1965; Đinh Văn B, sinh năm 1978 đều trú tại xã Khánh Cư, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình đến nhà anh Đinh Văn T2, sinh năm 1964, trú tại thôn C 4, xã C, huyện Y (gia đình anh T2 đang có đám hiếu). Tại đây K đã rủ K1, Đ, B đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được mọi người đồng ý, K1 đi mua bộ bài tú lơ khơ rồi vào phòng khách nhà anh T2 đánh “Liêng” , quy định đặt tiền gà là 10.000 đồng và tố cao nhất là 50.000 đồng. Sau đó có Trịnh Xuân T1, sinh năm 1981; Lã Văn L, sinh năm 1990 và Bùi Văn M đều trú tại xã Khánh Cư, huyện Yên Khánh đến tham gia đánh bạc cùng. Khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày, tổ công tác Công an huyện Yên Khánh phát hiện, thu giữ tại chiếu bạc số tiền 1.330.000 đồng, 01 bộ bài lơ khơ 52 quân; thu trên người các đối tượng số tiền 3.440.000 đồng và 6 điện thoại di động các loại, cụ thể là Trịnh Xuân T1 2.240.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57; Đinh Văn K1 600.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel; Trịnh Văn Đ 400.000 đồng; Bùi Văn K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 107; Đinh Văn B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus; Bùi Văn M 200.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2690.

Kết quả điều tra ban đầu xác định tổng số tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc là 2.330.000 đồng gồm trên chiếu 1.330.000 đồng, trên người Đinh Văn K1 600.000 đồng; Trịnh Văn Đ 400.000 đồng. Trong số các đối tượng đánh bạc có Bùi Văn M có tiền án về tội đánh bạc chưa được xóa án tích.

Quá trình điều tra Bùi Văn M đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại cáo trạng số 11/CT-VKSYK ngày 9/4/2018 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh truy tố bị cáo Bùi Văn M ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh để xét xử về tội đánh bạc theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 .

Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Bùi Văn M phạm tội đánh bạc.

Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Bùi Văn M từ 6 đến 9 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.330.000 đồng thu giữ của các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào đánh bạc.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân mà các đối tượng đã sử dụng vào việc phạm tội.

+ Trả lại cho Bùi Văn M 200.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Lời khai tại phiên toà của bị cáo Bùi Văn M đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; phù hợp với vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Tối ngày 3/01/2018 bị cáo Bùi Văn M và Đinh Văn K1, Trịnh Văn Đ, Bùi Văn K, Đinh Văn B, Trịnh Xuân T1, Lã Văn L đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh Liêng được thua bằng tiền tại nhà anh Đinh Văn T2 ở xã Khánh Cư với tổng số tiền dùng vào đánh bạc là 2.330.000 đồng.

[2]. Bị cáo Bùi Văn M là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã bị kết án về tội đánh bạc theo bản án hình sự sơ thẩm số 21/2010/HSST ngày 16/9/2010 của Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Đến ngày 3/1/2018 Mạnh cùng với Đinh Văn K1, Trịnh Văn Đ, Bùi Văn K, Đinh Văn B, Trịnh Xuân T1 và Lã Văn L thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới 5.000.000 đồng thì M chưa thi hành xong khoản tiền phạt bổ sung nên chưa được xóa án tích; Theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015: “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của bộ luật này hoặc bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm...”.

Do vậy hành vi của Bùi Văn M đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[2]. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm hại đến khách thể được luật hình sự bảo vệ mà gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

[3]. Về tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo M không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo M được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4]. Về nhân thân: Bị cáo M đã có tiền án về hành vi đánh bạc chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không chịu cải tạo, tu dưỡng, rèn luyện mà tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo là người khó giáo dục, cải tạo.

[5]. Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng loại hình phạt tù và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

ơNgoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo M phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đối với anh Đinh Văn T2 là chủ nhà khi các đối tượng đánh bạc anh T2 không ở nhà và không biết M, K1, Đ, K, B, T1 và L đánh bạc tại nhà mình nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Khánh không xem xét xử lý.

Đối với Đinh Văn K1, Trịnh Văn Đ, Bùi Văn K, Đinh Văn B, Trịnh Xuân T1 và Lã Văn L chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc; chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an huyện Yên Khánh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đinh Văn K1, Trịnh Văn Đ, Bùi Văn K, Đinh Văn B, Trịnh Xuân T1 và Lã Văn L là đúng pháp luật.

[6]. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Khánh đã trả lại cho Trịnh Xuân T1 2.240.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57; Đinh Văn K1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel; Bùi Văn K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 107; Đinh Văn B 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus; Bùi Văn M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 2690 do không sử dụng đánh bạc là có căn cứ; còn lại 2.530.000 đồng ( trong đó tiền đánh bạc là 2.330.000 đồng và 200.000 đồng của Bùi Văn M); 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã thu giữ là vật chứng của vụ án được xử lý theo Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015như sau:

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.330.000 đồng thu giữ của các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào đánh bạc.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân mà các đối tượng đã sử dụng vào việc phạm tội.

+ Trả lại cho Bùi Văn M 200.000 đồng nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

[7] . Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8]. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[9]. Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, đúng thẩm quyền, đúng trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn M phạm tội đánh bạc.

Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Bùi Văn M 06 ( Sáu ) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng ( Mười triệu đồng ) để sung quỹ Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.330.000 đồng ( Hai triệu ba trăm ba mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan sử dụng vào việc đánh bạc.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân mà các đối tượng đã sử dụng vào việc phạm tội.

+ Trả lại cho Bùi Văn M 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng ) nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

( Những vật chứng trên đã giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình theo Uỷ nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử số 07 ngày 18/4/2018 và biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/4/2018 giữa Công an huyện Yên Khánh với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo Bùi Văn M phải nộp 200.000 đồng ( Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai , bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ( ngày 15/6/ 2018 ); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

T/m. héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm

ThÈm ph¸n- Chñ to¹ phiªn toµ

Cỡ chữ