vanban.org

Bản án 21/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 30/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về

Số: 21/2018/HSST

Ngày: 30/03/2018

TO ÁN NHÂN DÂN CỘNG HO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN THUẬN TH NH Độc Lập - Tự do - Hạnh Phúc T NH BẮC NINH V án: Nguyên Đinh S, Nguyên Đinh D pham tôi “Mua bán trái phep hoa đơn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TO ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN TH NH - BẮC NINH -T àn p ần Hội đ ng xét xử sơ t ẩm g m có: Thẩ phán - chủ to phiên toà: Ông Nguyên Quang Hòa Các hội thẩ nhân dân: 1.Ông Nguyên Đinh Quê 2. Bà Nguyên Thi Sơn - T ư ký p iên toà: Bà Nguyên Thanh Thuy - Đại diện Viện kiểm sát n ân dân uyện T uận T àn t am gia p iên toà: Ông Nguyên Toán Cương - Kiểm sát viên. Ngày 30 tháng 3 năm 2018, tai Tr sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành mở phiên toà công khai xet xử sơ thẩm v án hinh sự th lý số: 05/2018/HSST ngày 31/01/2018 đối với các bi cáo: 1. Nguyễn Đình S - sinh năm 1980 Nơi ĐKHKTT: Số 45A, đương 160, khu phố 3, phương T, quận 9, thành phố H. Chỗ ở: Thôn D, xã D, huyện G, thành phố H. Nghề Nghiệp: Kinh doanh; Trinh đô hoc vân: 12/12; Dân tôc: Kinh; Giới tinh: Nam; Quốc tich: Việt Nam Con ông: Nguyên Đinh V - sinh năm 1954 (đã chêt). Con bà: Pham Thi Kim C - sinh năm 1957 (đã chêt) Vợ: Nguyên Thi Thu H - sinh năm 1982, co 01 con - sinh năm 2004 Tiền án, tiền sự: Không Bi cáo không bi tam giữ, tam giam, được áp d ng biện pháp ngăn chặn Câm đi khỏi nơi cư tru. (Co mặt tai phiên tòa)

2. Nguyễn Đình D - sinh năm 1985 Nơi ĐKHKTT: Tổ T, thi trân T, huyện G, thành phố H Chỗ ở: phòng 408 - V1, khu đô thi Đ, xã Đ, huyện G, thành phố H Nghề Nghiệp: Kinh doanh; Trinh đô hoc vân: 12/12; Dân tôc: Kinh ; Giới tinh: Nam; Quốc tich: Việt Nam; Con ông: Nguyên Văn M- sinh năm 1960. Con bà: Giáp Thi L - sinh năm 1962. Vợ: Trần Thanh P - sinh năm 1987, co 01 con - sinh năm 2012 Tiền án, tiền sự: Không Bi cáo không bi tam giữ, tam giam, được áp d ng biện pháp ngăn chặn Câm đi khỏi nơi cư tru. Co mặt tai phiên tòa * Ngươi co quyền lợi và nghia v liên quan: Chi c c Thuê huyện Thuận Thành tinh Băc Ninh. Ngươi đai diện theo pháp luật: Ông Đỗ Công T – Chi c c trưởng Chi c c Thuê huyện Thuận Thành tinh Băc Ninh. (Co đơn xin xet xử văng mặt) NỘI DNG VU ÁN Theo các tài liệu co trong hồ sơ v án và diên biên tai phiên tòa, nôi dung v án được tom tăt như sau: 1. Hành vi phạm tội của bị cao Nguyễn Đình S: Trong khoảng thơi gian đầu năm 2014, S thông qua ban bè co quen biêt ngươi đàn ông tên Hùng, quê ở Kiên An, thành phố Hải Phòng (không rõ tên tuổi, đia chi c thể). S noi chuyện với Hùng về việc kinh doanh của S đang gặp kho khăn, nên Hùng đã hướng dẫn S thành lập Công ty để mua bán hoa đơn GTGT khống (không co hàng) và hứa nêu S thành lập Công ty mua bán hoa đơn GTGT khống thi Hùng sẽ lo toàn bô hoa đơn GTGT khống làm đầu vào cho S. Đên tháng 11 năm 2014, thông qua Dương Ngoc Lâm (sinh năm 1980, ở huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nôi), S mượn CMND của em ho Lâm là Vũ Văn Binh (sinh năm 1993, ở xã Tri Quả, huyện Thuận Thành, tinh Băc Ninh) và nhơ Binh thành lập, đứng tên Giám đốc Công ty TNHH SXTM Quốc tê Gia Linh (Công ty Gia Linh) tr sở: thôn Thanh Binh, xã Xuân Lâm, huyện Thuận Thành, tinh Băc Ninh để mua bán hoa đơn GTGT khống; khi nhơ Lâm và Binh, S không trao đổi m c đich thành lập Công ty để mua bán hoa đơn mà chi noi để kinh doanh hat nhựa. Sau khi thành lập Công ty xong, Binh không biêt và không liên quan đên hoat đông của Công ty Gia Linh. S là ngươi điều hành, chi đao và chiu trách nhiệm về moi hoat đông kinh doanh của Công ty Gia Linh. Ngày 03/06/2015, S thay đổi đăng ký kinh doanh chinh thức đứng tên Giám đốc Công ty Gia Linh. Trong thơi gian Binh đứng tên Giám đốc Công ty Gia Linh (từ tháng 11/2014 đên

đầu tháng 6/2015), moi chữ ký của Binh vào các giây tơ như hoa đơn, chứng từ, sổ sách của Công ty Gia Linh là do S ký giả mao. Thực chât, Công ty Gia Linh không co mua bán hàng hoa thật mà chi mua bán hoa đơn GTGT khống, do S thực hiện và chi đao. Đối với các tài liệu liên quan đên việc mua bán hoa đơn GTGT khống của Công ty Gia Linh, S khai đã hủy hêt nên không co để cung câp cho Cơ quan An ninh điều tra. * Hàn vi bán óa đơn GTGT k ống: Từ tháng 11/2014 đên tháng 4/2016, S bán tổng 160 hoa đơn GTGT khống của Công ty Gia Linh xuât cho các Công ty, cá nhân khác với giá từ 3,7% đên 3,8%. Các hoa đơn GTGT của Công ty Gia Linh xuât cho các Công ty đều là hoa đơn GTGT khống. S bán tổng số 07 hoa đơn, tiền thuê là 220.735.500đ cho công ty Đai Việt thông qua anh Đai- Giám đốc Công ty Đai Việt; bán tổng số 07 hoa đơn, tiền thuê là 323.444.335đ cho công ty HanLim thông qua chi An- kê toán Công ty HanLim; bán tổng số 06 hoa đơn, tiền thuê là 698.560.820đ cho công ty Thuận Đức thông qua anh Hải nhân viên Công ty Thuận Đức; bán tổng số 19 hoa đơn, tiền thuê là 751.780.000đ cho công ty Trang Huy thông qua anh Hùng Giám đốc Công ty Trang Huy; bán tổng số 03 hoa đơn, tiền thuê là 44.902.181đ cho công ty Kamtech thông qua anh Hiêu Giám đốc Công ty Kamtech; bán tổng số 09 hoa đơn, tiền thuê là 133.387.273đ cho công ty Suntex thông qua chi Hiền kê toán Công ty Suntex; bán tổng số 03 hoa đơn của Công ty Yên Phong Vina và 10 hoa đơn của Công ty Quốc tê Yên Phong, với tổng tiền thuê là 188.842.500đ thong qua anh Ngoc Giám đốc Công ty Yên Phong Vina; bán tổng số 06 hoa đơn, tiền thuê là 56.774.300đ cho công ty CLD Việt Nam thông qua anh Nguyên Khăc Thanh; bán 01 hoa đơn, tiền thuê là 7.200.000đ cho công ty Hà My Vina thông qua Dương Ngoc Lâm; bán tổng số 80 hoa đơn GTGT khống mặt hàng hat nhựa, bao bi, vỏ bao, dây truyền máy, với tổng tiền thuê là 284.962.445đ cho 25 Công ty, thông qua Nguyên Đinh D; còn lai 09 hoa đơn GTGT của công ty Gia Linh xuât cho các công ty Nguyên Khánh, công ty Vinacap, công ty Hiệp Trương Phát, công ty Ngoc Ca Thương, nhưng S không nhớ đã bán thông qua ai. Tât cả các số hoa đơn GTGT khống của Công ty Gia Linh mà S đã xuât bán đều được kê khai báo cáo thuê. Sau khi các cá nhân liên hệ trực tiêp với S để mua hoa đơn GTGT khống và cung câp thông tin về Công ty nhận hoa đơn, S trực tiêp hoặc chi đao Thẩm Thuy Phương là kê toán và Nguyên Kim Hương là nhân viên soan thảo hợp đồng, biên bản giao nhận kiêm phiêu xuât kho và viêt hoa đơn GTGT. Khi soan xong S ki trước và chuyển các chứng từ như hợp đồng, biên bản giao nhận kiêm phiêu xuât kho cùng hoa đơn GTGT cho các công ty đầu ra ký hoàn thiện và chuyển trả lai cho công ty Gia Linh. Việc thanh toán tiền hàng qua ngân hàng chi là hinh thức để hợp thức hoa việc mua bán hoa đơn GTGT khống. S trực tiêp mang tiền đên gặp Giám đốc hoặc nhân viên của các

Công ty đầu ra nhận hoa đơn mặt hàng hat nhựa, phê liệu và nhân công để cùng đên ngân hàng chuyển tiền. Giám đốc hoặc nhân viên các Công ty đầu ra này là ngươi nôp tiền và chuyển tiền trả Công ty Gia Linh, số tiền chuyển là tiền của S đưa cho; còn đối với các Công ty đầu ra nhận hoa đơn mặt hàng bao bi, vỏ bao, dây truyền máy thi các Công ty này hoặc Nguyên Đinh D tự chuyển tiền vào tài khoản Công ty Gia Linh, sau đo S rut ra và trả lai cho Nguyên Đinh D vào tài khoản cá nhân của D ở ngân hàng Agribank. Hương và Phương không biêt S bán hoa đơn GTGT khống không co hàng. Đối với việc thanh toán tiền mua bán hoa đơn GTGT khống: sau khi đã thanh toán tiền qua ngân hàng, các Công ty đầu ra trả bằng tiền mặt cho S; Riêng đối với các hoa đơn GTGT khống S bán cho Nguyên Đinh D thi khi S rut tiền từ tài khoản Công ty Gia Linh để trả D, S đã trừ số tiền D mua hoa đơn GTGT khống của S. Cơ quan điều tra xác đinh trong tổng số 160 hoa đơn GTGT khống của công ty Gia Linh bán cho 39 công ty với tổng số tiền hàng là 28.842.195.538 đồng, tiền thuê là 2.884.219.554 đồng thi co 138 hoa đơn GTGT với tổng tiền hàng là 28.809.715.038 đồng, tiền thuê là 2.880.971.504 đồng đã được các công ty nhận hoa đơn kê khai báo cáo thuê sử d ng làm đầu vào. * Hành vi mua hoa đơn GTGT khống: Tổng số 37 hoa đơn GTGT của 07 công ty, với tổng tiền hàng là 27.904.210.000đ, tiền thuê là 2.790.421.000đ. S khai trên cơ sở hoa đơn GTGT khống của Công ty Gia Linh đã xuât bán, S liên lac với Hùng để lây hoa đơn GTGT khống làm đầu vào. Hùng cung câp thông tin về các Công ty xuât hoa đơn cho S để S trực tiêp hoặc chi đao Hương soan thảo hợp đồng, biên bản giao nhận hàng hoa kiêm phiêu xuât kho…Sau khi soan thảo xong, S ký trước và chuyển cho Hùng qua xe khách. Sau đo, Hùng sẽ hoàn thiện phia Công ty xuât hoa đơn và chuyển lai các tài liệu này cùng hoa đơn GTGT khống cho S qua xe khách. S đã mua tổng số 34 hoa đơn GTGT khống, tiền hàng là 27.858.210.000đ, tiền thuê là 2.785.821.000đ của các Công ty Bach Hổ, Công ty Tân Trung Nguyên, Công ty Dương Gia Thinh Vượng, Công ty Tâm Van Thành, Công ty Hải Hoa, Công ty Thu Hương từ Hùng. Ngoài ra, S còn được Phan Đinh Huân chủ DNTN Hợp Nhât xuât cho 03 hoa đơn GTGT khống về vận chuyển, tổng tiền hàng là 46.000.000đ, tiền thuê là 4.600.000đ của DNTN Hợp Nhât nhưng không lây tiền. Tât cả các hoa đơn GTGT S mua khống để làm đầu vào cho công ty Gia Linh đã được kê khai báo cáo thuê. Việc thanh toán tiền hàng qua ngân hàng chi là hợp thức hoa việc mua bán hoa đơn GTGT khống. Hùng hoặc ngươi của Hùng mang tiền lên Hà Nôi hẹn S ra ngân hàng để chuyển tiền; S là ngươi nôp tiền vào tài khoản của Công ty Gia Linh và ủy nhiệm chi trả tiền cho các Công ty đầu vào; đối với hoa đơn GTGT

khống của DNTN Hợp Nhât do co giá tri dưới 20 triệu đồng nên không phải chuyển khoản qua ngân hàng. S khai mua hoa đơn GTGT khống của Hùng với giá 3,5% giá tri tiền hàng ghi trên hoa đơn; số tiền mua hoa đơn này được S trả cho Hùng bằng tiền mặt. Đối với hoa đơn GTGT khống của DNTN Hợp Nhât, S không phải trả tiền. * Hưởng lợi từ việc mua, bán óa đơn S khai bán hoa đơn GTGT khống của Công ty Gia Linh cho các Công ty và Nguyên Đinh D với giá từ 3,7% đên 3,8% (trung binh là 3,75%) giá tri tiền hàng trên hoa đơn; riêng đối với hoa đơn GTGT khống xuât bán Công ty Hà My Vina, S không nhớ bán với giá bao nhiêu. Nguyên Đinh D khai mua hoa đơn GTGT của S từ 6% đên 10% giá tri tiền hàng. Công ty Hà My Vina khai mua hoa đơn với giá 6%. Số tiền S bán hoa đơn khống của Công ty Gia Linh là: 1.083.202.332đ (Môt tỷ tám mươi ba triệu hai trăm linh hai nghin ba trăm ba mươi hai đồng) [cách tính: 3,75% x 28.770.195.538đ (tổng tiền hàng của Công ty Gia linh xuất bán là 28.842.195.538đ – tiền hàng của Công ty Hà My Vina là 72.000.000đ) + tiền bán hóa đơn GTGT cho Công ty Hà My Vina (tiền hàng là 72.000.000đ x 6%)]. S khai đã mua hoa đơn GTGT khống của Hùng với giá 3.5% giá tri tiền hàng trên hoa đơn, còn đối với hoa đơn GTGT khống của DNTN Hợp Nhât không phải trả tiền. Vi vậy, số tiền S mua hoa đơn GTGT khống là 975.037.350đ (Chin trăm bảy mươi năm triệu ba mươi bảy nghin ba trăm năm mươi đồng) (cách tính: 3.5% x tổng tiền hàng trên hóa đơn khống ua từ Hùng là 27.858.210.000đ). Vậy, số tiền S được hưởng lợi từ việc mua bán hoa đơn GTGT khống của công ty Gia Linh là 108.164.982đ (Môt trăm linh tám triệu môt trăm sáu mươi bốn nghin chin trăm tám mươi hai đồng).(cách tính: lấy số tiền thu được từ việc S bán hóa đơn GTGT khống là 1.083.202.332đ – số tiền S ua hóa đơn GTGT khống là 975.037.350đ).

Căn cứ Công văn số 2789/CCT-KT ngày 23/08/2017 của Chi c c thuê huyện Thuận Thành xác đinh: trong quá trinh hoat đông Công ty Gia Linh đã thực hiện đong thuê TNDN và thuê môn bài, tổng số tiền là 17.600.000đ. Vi vậy, số tiền thực chât S được hưởng lợi từ việc mua bán hoa đơn GTGT khống là: 108.164.982đ – 17.600.000đ = 90.564.982đ (Chin mươi triệu năm trăm sáu mươi bốn nghin chin trăm tám mươi hai đồng). 2. Hành vi phạm tội của bị cao Nguyễn Đình D: Nguyên Đinh D làm việc tai Công ty TNHH sản xuât APM tr sở tai huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nôi. Khoảng năm 2014, D quen biêt Nguyên Đinh S- Giám đốc Công ty Gia Linh chuyên kinh doanh sản xuât hat nhựa, vỏ bao. D khai khoảng đầu năm 2015, D quen biêt môt ngươi tên là Hưng ở Băc Giang (không rõ đia chi, quê quán) co dây truyền máy muốn bán nhưng khách đòi phải co hoa đơn GTTT nên đã nhơ D tim chỗ xuât được hoa đơn GTGT khống

dây truyền máy. D đã liên lac với S để hỏi thi được S cho biêt Công ty Gia Linh xuât được hoa đơn GTGT khống về dây truyền máy và đồng ý xuât khống hoa đơn cho D. Từ đo, D biêt S co thể xuât bán hoa đơn GTGT khống của công ty Gia Linh. Vi vậy, trong quá trinh kinh doanh bao bi, co nhiều khách hỏi mua hàng nên D đã mua bao bi, vỏ bao của các chủ tư nhân ở Hà Nôi, Ninh Binh…nhưng không co hoa đơn GTGT xuât trả cho các Công ty. D đã liên hệ với Nguyên Đinh S để mua hoa đơn GTGT khống mặt hàng bao bi, vỏ bao để xuât bán cho các công ty. Từ đầu năm 2015 đên tháng 4/2016, D đã mua tổng số 46 hoa đơn GTGT khống với tổng tiền hàng là 785.943.492đ, tiền thuê là 78.594.349đ của Công ty Gia Linh để xuât trả cho 19 Công ty. Ngoài 19 công ty trên, S khai còn bán hoa đơn GTGT khống của công ty Gia Linh cho các công ty Hợp Lực, công ty CP dinh dưỡng Quốc tê Việt Nhật, công ty Hợp Phát, công ty Phuc Khang, công ty xi măng Lai Châu, công ty APM thông qua D. Nhưng D khai đối với hoa đơn GTGT của Công ty Gia Linh xuât cho công ty Hợp Lực, Công ty Phuc Khang, Công ty xi măng Lai Châu với tổng số 17 hoa đơn, tiền thuê là 18.861.546đ là thật; D đã mua hàng vỏ bao cũ vẫn còn giá tri sử d ng của Công ty Gia Linh từ S để bán cho các Công ty trên và lây hoa đơn GTGT của Công ty Gia Linh xuât trả các Công ty này. Ngoài ra, với vai trò ph trách kinh doanh mua bán hàng của Công ty APM, D khai Công ty APM mua hàng thật của Công ty Gia Linh, D chi ký hợp đồng, đặt hàng lần đầu, việc giao nhận hàng và các lần mua hàng khác là do Bằng (Giám đốc Công ty APM) thực hiện nên D không biêt; còn các số hoa đơn GTGT của công ty Gia Linh xuât cho công ty CP dinh dưỡng Quốc tê Việt Nhật, công ty Hợp Phát thi D không liên quan và không biêt các công ty này. Cơ quan điều tra đã tổ chức đối chât nhưng hai bên vẫn giữ nguyên lơi khai, không co tài liệu gi khác chứng minh. D khai việc ký hợp đồng, thanh toán chuyển tiền qua ngân hàng chi là hinh thức để hợp thức hoa việc mua bán hoa đơn GTGT khống; co lần D soan thảo hợp đồng gửi cho phia Công ty Gia Linh qua mail hoặc D gửi thông tin của Công ty nhận hoa đơn cho Hương nhân viên của Công ty Gia Linh để soan thảo hợp đồng, sau đo phia Công ty Gia Linh hoàn thiện và gửi trực tiêp cho các Công ty nhận hoa đơn. Do D bán hàng bao bi thật nên các Công ty mua hàng tự chuyển tiền vào tài khoản của Công ty Gia Linh hoặc trả tiền vào tài khoản cá nhân của D hoặc trả tiền mặt. Sau đo, S trừ tiền D mua hoa đơn và chuyển số tiền còn lai vào tài khoản cá nhân D. D khai đã mua hoa đơn GTGT khống của S với giá 6% đối với hoa đơn dây truyền máy; từ 6% đên 10% (trung binh 8%) đối với bao bi, vỏ bao, riêng Công ty Lê Uyên Nhi với giá 6%. Còn khi bán hoa đơn D khai: đối với hoa đơn

khống về dây truyền máy D mua hô Hưng không lây phi; đối với hoa đơn GTGT khống bán cho Công ty Lê Uyên Nhi D không nhớ bán giá bao nhiêu; còn đối với các hoa đơn khống về bao bi, vỏ bao D lây của các Công ty mua hàng thật đủ 10% giá tri tiền hàng. S khai bán hoa đơn GTGT khống cho D với giá từ 3,7% đên 3,8% giá tri tiền hàng, còn các Công ty khai đã mua hàng của D và trả D đủ 10%, riêng Công ty Lê Uyên Nhi khai mua hoa đơn GTGT khống của D với giá 7% giá tri tiền hàng. Cơ quan điều tra đã tiên hành đối chât giữa D và S nhưng hai bên vẫn giữ nguyên lơi khai, không co tài liệu gi khác chứng minh. Vi vậy, D phải chiu trách nhiệm về hành vi mua hoa đơn GTGT khống của S với giá trung binh là 8%. * Hưởng lợi từ việc mua bán óa đơn GTGT k ống của D - Đối với Công ty Lê Uyên Nhi: D khai đã mua của S với giá 6% nhưng không nhớ bán với giá bao nhiêu %, Công ty Lê Uyên Nhi khai mua hoa đơn của D với giá 7%, nên D được hưởng lợi là 7% - 6% = 1%. Số tiền D được hưởng lợi là 1% x 34.000.000đ (tiền hàng)= 340.000đ. - Đối với Công ty Đai Hải Phong: D khai mua hoa đơn của S với giá 06%, bán lai cho Hưng với giá 06%, nên D không được hưởng lợi gi. - Đối với 17 Công ty D bán hàng xuât trả hoa đơn GTGT khống của Công ty Gia Linh: D khai đã mua hoa đơn GTGT khống của S với giá từ 06% đên 10%, thu của các Công ty mua hàng đủ 10% giá tri tiền hàng trên hoa đơn. Vi vậy, D được hưởng lợi là 10% - 8% = 2% giá tri tổng tiền hàng; C thể số tiền D được hưởng lợi từ việc bán hoa đơn cho các Công ty này là: 2% x 679.143.492đ (tổng tiền hàng)= 13.582.869đồng. Vậy, tổng số tiền D được hưởng lợi là 13.582.869đ+340.000đ= 13.922.869đ (Mươi ba triệu, chin trăm hai hai nghin, tám trăm sáu chin đồng) Tai Cơ quan điều tra, Nguyên Đinh S và Nguyên Đinh D khai nhận toàn bô hành vi pham tôi như đã nêu ở trên ngày 17/7/2017 S nôp 40.000.000 đồng; Ngày 18/10/2017, D nôp 20.000.000 đồng tai Cơ quan điều tra để khăc ph c hậu quả. 3. Đối với cac Công ty đầu vào: Công ty Gia Linh nhận tổng số 86 hoa đơn GTGT với tổng tiền hàng là 28.258.422.572đ, tiền thuê là 2.825.842.257đ của 29 Công ty. Trong đo, Nguyên Đinh S khai đã mua hoa đơn GTGT khống của 07 Công ty, tổng số 37 hoa đơn GTGT, với tổng tiền hàng là 27.904.210.000đ, tiền thuê là 2.790.421.000đ. Cơ quan điều tra đã xác minh 07 Công ty trên gồm công ty TNHH Bach Hổ, Doanh nghiệp tư nhân thương mai và dich v Hợp Nhât, công ty TNHH Đàu tư thương mai Hải Hoa, công ty TNHH dich v Thu Hương, công ty TNHH thương mai xuât nhập khẩu Dương Gia Thinh Vượng, công ty TNHH tư vân Tân Van Thành, công ty cổ phần đầu tư giáo d c Tân Trung Nguyên, kêt quả phản ánh

các Công ty này đã ngừng hoat đông hoặc bỏ đia chi kinh doanh; những ngươi đứng tên Giám đốc khai nhận bi mât chứng minh nhân dân và không biêt về các Công ty này, không ký vào tài liệu gi của các Công ty này; Riêng DNTN Hợp Nhât vẫn đang hoat đông, Phan Đinh Huân chủ DNTN Hợp Nhât khai nhận đã xuât khống 04 hoa đơn GTGT của DNTN Hợp Nhât cho Công ty Gia Linh thông qua Nguyên Đinh S, nhưng không lây tiền. 4. Đối với cac Công ty đầu ra: Về hoat đông hoa đơn đầu ra, khi khách hàng yêu cầu ho cung câp cho S số liệu để viêt hoa đơn (Như tên Công ty, mã số thuê, mặt hàng, số lượng giá tri). S chuyển số liệu cho Hương là nhân viên của công ty, hướng dẫn Hương viêt hoa đơn, soan thảo các hợp đồng, chứng từ theo yêu cầu của khách. Sau đo Hương giao lai cho S. Các hoa đơn chứng từ S sử d ng con dâu, chữ ký của S là Giám đốc công ty Gia Linh để đong dâu. Sau khi hoàn thiện S trả lai cho khách hàng kèm theo các chứng từ khác như phiêu xuât kho, báo giá, hợp đồng... về tiền mua hoa đơn khách trả cho S bằng tiền mặt không co giây tơ biên nhận hay sổ sách ghi chep gi về việc này, không co ngươi chứng kiên. S khai S đã bán tổng số 160 hoa đơn GTGT, với tổng tiền hàng là 28.842.195.538đ, tiền thuê là 2.884.219.554đ cho 39 Công ty; trong đo co 07 Công ty co số tiền thuê trên 100 triệu đồng; 32 Công ty co số tiền thuê dưới 100 triệu đồng *Đối với 07 Công ty có số tiền t uế trên 100 triệu đ ng: Cơ quan điều tra đã thu thập tài liệu, triệu tập làm việc với Giám đốc và những ngươi co liên quan. Kêt quả phản ánh: 07 công ty đều khai mua bán hàng hoa thật với Công ty Gia Linh, nhận tổng số 56 hoa đơn với tổng tiền hàng là 23.504.084.277đ, tiền thuê là 2.350.408.428đ. Trong đo co 05 Công ty (Công ty Đai Việt, Công ty Trang Huy, Công ty APM, Công ty HanLim, Công ty quốc tê Yên Phong) khai nhận trực tiêp mua hàng từ Nguyên Đinh S- Giám đốc Công ty Gia Linh hoặc Hương- nhân viên Công ty Gia Linh và được trả hoa đơn GTGT của Công ty Gia Linh; Công ty Thuận Đức khai giao cho nhân viên tên Hải đi mua hàng, hiện Hải không còn làm tai Công ty Thuận Đức và Công ty Suntex khai mua hàng qua trung gian tên Tuyền và được trả hoa đơn GTGT của Công ty Gia Linh, không rõ tên tuổi, đia chi của Tuyền ở đâu. Các Công ty đều trinh bày đã vào trang mang của Tổng c c Thuê kiểm tra Công ty Gia Linh thây Công ty này vẫn đang hoat đông, co kê khai thuê báo cáo thuê; quá trinh mua bán hàng đều co ký kêt Hợp đồng kinh tê, co Biên bản giao nhận hàng; việc thanh toán trả tiền hàng được trả tiền qua ngân hàng và cung câp cho Cơ quan điều tra các hoa đơn chứng từ liên quan đên việc mua bán hàng, về hinh thức thây đều hợp lệ không co gi mâu thuẫn. Các công ty này không thừa nhận mua hoa đơn hoặc biêt rõ hoa đơn bât hợp pháp nhưng vẫn sử d ng. Nguyên Đinh S khai đã bán

hoa đơn GTGT khống của Công ty Gia Linh cho các Công ty này. Cơ quan điều tra đã tiên hành đối chât về các tinh tiêt mâu thuẫn giữa S với các Công ty trên, song các bên vẫn giữ nguyên lơi khai, không co tài liệu khác chứng minh S khai Thẩm Thuy Phương là kê toán của công ty, Nguyên Thi Hương là nhân viên của công ty và Vũ Văn Binh đều không biêt S thành lập công ty để bán hoa đơn khống (không co hàng) và đều làm theo sự chi đao của S. *Đối với các Công ty có số tiền t uế dưới 100 triệu đ ng: Trong tổng số 160 hoa đơn GTGT khống của Công ty Gia Linh, Cơ quan điều tra xác đinh co 32 công ty co số tiền thuê dưới 100 triệu đồng, nhận tổng số 104 hoa đơn GTGT với tổng tiền hàng là 5.338.111.261đ, tiền thuê là 533.811.126đ. Trong tổng số 32 Công ty trên co 03 Công ty khai nhận đã mua hoa đơn GTGT khống của Công ty Gia Linh, c thể: Công ty Lê Uyên Nhi khai mua 02 hoa đơn GTGT khống với tổng tiền thuê là 3.400.000đ của Công ty Gia Linh từ Nguyên Đinh D, Công ty TNHH Hà My Vina mua 01 hoa đơn GTGT khống với tiền thuê là 7.200.000đ của Công ty Gia Linh từ Dương Ngoc Lâm, Công ty TNHH cơ, điện- tự đông hoa Kamtech mua 03 hoa đơn GTGT khống của Công ty Gia Linh từ Nguyên Đinh S; Co 11 Công ty đã nhận tổng 34 hoa đơn GTGT của Công ty Gia Linh với tổng tiền thuê là 344.114.983đ khai nhận mua hàng trực tiêp của Công ty Gia Linh và được trả hoa đơn; Co 02 Công ty đã nhận tổng 02 hoa đơn GTGT của Công ty Gia Linh với tổng tiền thuê là 9.079.520đ khai nhận mua hàng qua trung gian được trả hoa đơn GTGT của Công ty Gia Linh và còn 03 Công ty chưa giải trinh về việc nhận hoa đơn GTGT của Công ty Gia Linh. Đối với các Công ty khai nhận co mua hàng thật, ho cung câp cho Cơ quan điều tra các hợp đồng, hoa đơn chứng từ liên quan đên việc mua bán hàng, về hinh thức thây đều hợp lệ không co gi mâu thuẫn. Các Công ty này không biêt hoa đơn GTGT của công ty Gia Linh xuât cho là hoa đơn bât hợp pháp. Tai bản cáo trang số: 10/CT – VKS – P1 ngày 30/01/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tinh Băc Ninh đã truy tố các bi cáo Nguyên Đinh S và Nguyên Đinh D về tôi: “Mua bán trái phep hoa đơn” theo điểm d Khoản 2 Điều 164a BLHS năm 1999 Tai phiên tòa hôm nay, các bi cáo Nguyên Đinh S và Nguyên Đinh D thành khẩn khai nhận hành vi pham tôi đung như bản Cáo trang đã qui kêt. Đai diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tinh Băc Ninh thực hành quyền công tố theo ủy quyền của Viện Kiểm sát nhân dân tinh Băc Ninh tai phiên tòa phát biểu luận tôi, sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tich tinh chât, mức đô nguy hiểm của hành vi pham tôi, nhân thân và các tinh tiêt tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hinh sự của các bi cáo đã đề nghi Hôi đồng xet xử giữ

nguyên tôi danh của S và D như Cáo trang đã truy tố và đề nghi Hôi đồng xet xử tuyên bố các bi cáo Nguyên Đinh S và Nguyên Đinh D pham tôi “Mua bán trái phep hoa đơn” Áp d ng điểm d khoản 2. khoản 3 Điều 164a; Điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 60 Bô luật hinh sự năm 1999; điểm d khoản 2, khoản 3 Điều 203 Bô luật hinh sự năm 2015: Xử phat Nguyên Đinh S từ 24 đên 30 tháng tù cho hưởng án treo, thơi gian thử thách từ 48 đên 60 tháng tinh từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phat tiền là hinh phat bổ sung đối với bi cáo từ 15 đên 20 triệu đồng. Xử phat Nguyên Đinh D từ 16 đên 20 tháng tù cho hưởng án treo, thơi gian thử thách từ 32 đên 40 tháng tinh từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phat tiền là hinh phat bổ sung đối với bi cáo từ 10 đên 15 triệu đồng. Đề nghi tich thu sung công tiền thu lợi bât chinh của S là 90.564.982 đồng và của D là 13.922.869 đồng để sung công quy nhà nước. Hoàn trả bi cáo D số tiền 6.077.131 đồng nhưng cần tam giữ để đảm bảo thi hành án. Các bi cáo Nguyên Đinh S và Nguyên Đinh D không tranh luận, nhât tri với quan điểm luận tôi của đai diện Viện kiểm sát chi đề nghi xem xet được giảm nhẹ hinh phat. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩ tra t i phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận t i phiên toà trên cơ sở xe xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiể sát viên, các bị cáo. NHẬN ĐINH CỦA TOA ÁN Trên cơ sở nôi Dng v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tai phiên tòa, Hôi đồng xet xử nhận đinh như sau: [1]. Về tôi danh, Hôi đồng xet xử

nhận thây: Trong quá trinh xet hỏi, tranh luận tai phiên tòa, các bi cáo Nguyên Đinh S và Nguyên Đinh D đã thừa nhận hành vi pham tôi “Mua bán trái phep hoa đơn” do chinh các bi cáo đã thực hiện. Lơi nhận tôi của các bi cáo phù hợp với các tài liệu co trong hồ sơ v án, đã co đủ căn cứ xác đinh: Trong khoảng thơi gian từ tháng 11/2014 đên tháng 4/2016, Nguyên Đinh S - Giám đốc Công ty TNHH sản xuât thương mai Quốc tê Gia Linh, tr sở tai thôn Thanh Binh, xã Xuân Lâm, huyện Thuận Thành, tinh Băc Ninh, đã mua 37 hoa đơn GTGT khống (không co hàng) của 7 công ty với tổng giá tri tiền hàng là 27.904.210.000đồng, tiền thuê là 2.790.421.000đồng và đã xuât bán tổng số 160 hoa đơn GTGT khống của công ty Gia Linh cho 39 công ty với tổng tiền hàng là 28.842.95.538 đồng, tiền thuê 2.884.219.554 đồng. Trong đo co 138 hoa đơn GTGT với tổng tiền hàng là 28.809.715.038đồng, tiền thuê là

2.880.971.504đồng đã được các công ty nhận hoa đơn kê khai báo cáo thuê sử d ng làm đầu vào. Thông qua việc mua bán trái phep hoa đơn, S được hưởng lợi số tiền là 90.564.982 đồng, hiện S đã tự nguyện nôp 40.000.000 đồng tai Cơ quan điều tra và 50.564.982 đồng tai Chi c c Thi hành án huyện Thuận Thành tinh Băc Ninh để khăc ph c hậu quả. Đối với Nguyên Đinh D: Trong khoảng thơi gian từ tháng 3 năm 2015 đên tháng 9 năm 2016, D co kinh doanh bao bi, D đã mua 46 hoa đơn GTGT khống (không co hàng) của công ty Gia Linh với tổng tiền hàng ghi trên hoa đơn tri giá 785.943.492 đồng, tiền thuê 78.594.349 đồng, xuât bán cho 19 công ty. D được hưởng lợi tổng số tiền 13.922.869đồng, hiện D đã tự nguyện nôp 20.000.000đ tai Cơ quan điều tra để khăc ph c hậu quả. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân tinh Băc Ninh truy tố bi cáo S và bi cáo D theo điểm d, khoản 2 Điều 164a Bô luật hinh sự năm 1999 về tôi: “Mua bán trái phep hoa đơn” là co căn cứ pháp luật. Hành vi pham tôi của các bi cáo là nguy hiểm cho xã hôi, đã xâm pham tới trật tự quản lý hành chinh của nhà nước về tài chinh, kinh tê, gây mât trật tự trong sản xuât, kinh doanh là nguyên nhân của nan làm hàng giả, trốn thuê. Do vậy cần phải xử phat nghiêm minh mới co tác d ng riêng và phòng ngừa chung. Xet vai trò, nhân thân và các tinh tiêt tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hinh sự của các bi cáo thi thây: Đây là v án đồng pham giản đơn, không co sự bàn bac, phân công và câu kêt chặt chẽ, các bi cáo đều là ngươi thực hành và trực tiêp thực hiện hành vi pham tôi. Nguyên Đinh S và Nguyên Đinh D là ngươi kinh doanh nhưng không châp hành các qui đinh của pháp luật để trở thành doanh nhân đung đăn, các bi cáo chi vi tham lam, muốn hưởng lợi nhanh chong đã thực hiện hành vi mua bán hoa đơn bi pháp luật câm. Bi cáo Nguyên Đinh S đã mua bán số lượng hoa đơn GTGT nhiều và số tiền hưởng lợi nhiều hơn bi cáo D do đo bi cáo S phải co hinh phat cao hơn bi cáo D. Tuy nhiên các bi cáo đều co nhân thân tốt, chưa co tiền án tiền sự; quá trinh điều tra và tai phiên tòa hôm nay đều co thái đô thành khẩn nhận tôi, ăn năn hối cải, các bi cáo cũng đã tự nguyện nôp lai toàn bô số tiền thu lợi bât chinh để khăc ph c hậu quả, do vậy HĐXX thây cần chiêu cố khoan hồng, không cần buôc bi cáo cách ly xã hôi cũng đủ để giáo d c, cải tao thành ngươi lương thiện.

[2]. Về áp d ng hinh phat bổ sung: Các bi cáo thực hiện hành vi nhằm hưởng lợi bât chinh, nên cần áp d ng hinh phat bổ sung, phat môt khoản tiền để sung vào công quy nhà nước. [3]. Về số tiền thu lợi bât chinh: Hành vi mua, bán hoa đơn giá tri gia tăng của bi cáo S hưởng lợi bât chinh số tiền 90.564.982 đồng, của bi cáo D hưởng lợi bât chinh số tiền 13.922.869 đồng. Cần buôc các bi cáo phải nôp khoản tiền này để sung công quy nhà nước. Bi cáo S đã nôp 90.564.982 đồng, bi cáo D đã nôp 20.000.000 đồng nên cần tam giữ khoản tiền này để đảm bảo thi hành án. [4]. Đối với Nguyên Kim Hương, Thẩm Thuy Phương, Vũ Văn Binh: không biêt S thành lập công ty để bán hoa đơn GTGT khống không co hàng, xet thây ho chi là ngươi làm theo sự chi đao của Nguyên Đinh S, không biêt gi về việc mua bán hoa đơn của Công ty Gia Linh; vi vậy Cơ quan điều tra không xử lý trong v án này là phù hợp với quy đinh của pháp luật. Đối với Dương Ngoc Lâm: Mặc dù co tài liệu xác đinh Lâm đã giup S mượn chứng minh nhân dân và nhơ Vũ Văn Binh đứng tên Giám đốc thành lập Công ty Gia Linh; đã giup S bán 01 hoa đơn GTGT khống của Công ty Gia Linh cho Công ty Hà My Vina, với tiền thuê là 7.200.000đ. Xet thây số lượng hoa đơn GTGT khống chưa đủ xử lý hinh sự, chưa làm rõ được ý thức chủ quan của Lâm biêt S thành lập Công ty Gia Linh để bán hoa đơn GTGT khống nhưng vẫn giup; mặt khác hiện nay Lâm không co mặt tai đia phương, không rõ ở đâu, làm gi; tách ra, điều tra xử lý sau theo quy đinh của pháp luật. Đối với đối tượng co tên "Hưng" ở Băc Giang liên quan đên hoa đơn GTGT của công ty Gia Linh xuât cho công ty Đai Hải Phong, do chưa xác đinh được lai lich con ngươi c thể; tách ra điều tra xử lý sau theo quy đinh của pháp luật. Đối với DNTN Hợp Nhât: đên nay co đủ căn cứ xác đinh DNTN Hợp nhât đã xuât khống 03 hoa đơn GTGT khống với tổng tiền thuê là 4.600.000đồng cho Công ty Gia Linh. Nhưng xet thây, số lượng hoa đơn it (dưới 10 tơ), giá tri tiền thuê nhỏ, vi vậy, không xem xet xử lý hinh sự đối với Phan Đinh Huân chủ DNTN Hợp Nhât, mà thông báo cho Chi c c thuê huyện Khoái Châu biêt để xử lý theo quy đinh của pháp luật. Đối với các công ty co số tiền thuê trên 100 triệu đồng và các Công ty co số tiền thuê dưới 100 triệu đồng nhưng khai rõ mua hàng của Nguyên Đinh S Giám đốc Công ty Gia Linh. Do chưa làm rõ được ý thức chủ quan của ho là mua bán hoa đơn GTGT khống hoặc biêt hoa đơn bât hợp pháp nhưng vẫn sử d ng. Vi vậy, tách ra để điều tra xử lý tiêp, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau theo quy đinh của pháp luật.

Đối với các Công ty đầu ra co số tiền thuê dưới 100 triệu đồng khai nhận mua hàng của Nguyên Đinh D và mua hàng qua trung gian được trả hoa đơn của Công ty Gia Linh: co công văn thông báo cho chi c c thuê quản lý biêt để xử lý theo quy đinh. Đối với các Công ty Dương Gia Thinh Vượng, công ty Tân Trung Nguyên, công ty Tâm Van Thành là các công ty đầu vào ở đia bàn thành phố Hà Nôi đã xuât khống hoa đơn GTGT cho công ty Gia Linh: Do hiện nay các Công ty đều ngừng hoat đông hoặc bỏ đia chi kinh doanh, Giám đốc không biêt và không thành lập Công ty. Vi vậy, chuyển toàn bô hồ sơ tài liệu về các Công ty này cho Công an thành phố Hà Nôi để điều tra làm rõ giải quyêt theo quy đinh của pháp luật. Đối với Công ty Bach Hổ là công ty đầu vào ở đia bàn tinh Băc Giang đã xuât khống hoa đơn GTGT cho công ty Gia Linh: Do hiện nay Công ty đã ngừng hoat đông, Giám đốc không biêt và không thành lập Công ty. Vi vậy, chuyển toàn bô hồ sơ tài liệu về các Công ty này cho Công an tinh Băc Giang để điều tra làm rõ giải quyêt theo quy đinh của pháp luật. Đối với các Công ty Thu Hương, công ty Hải Hoa là các công ty đầu vào ở đia bàn thành phố Hải Phòng đã xuât khống hoa đơn GTGT cho công ty Gia Linh: Do hiện nay các Công ty đều ngừng hoat đông hoặc bỏ đia chi kinh doanh, Giám đốc không biêt và không thành lập Công ty. Vi vậy, chuyển toàn bô hồ sơ tài liệu về các Công ty này cho Công an thành phố Hải Phòng để điều tra làm rõ giải quyêt theo quy đinh của pháp luật. - Về án phi: Các bi cáo phải chiu án phi hinh sự sơ thẩm theo quy đinh của pháp luật Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐINH

Tuyên bố các bi cáo Nguyên Đinh S và Nguyên Đinh D đều pham tôi: “Mua bán trái phep hoa đơn”. - Áp d ng điểm d, khoản 2, khoản 3 Điều 164a, Điểm b, p khoản 1 Điều 46; Điều 60; Bô luật hinh sự năm 1999; điểm d khoản 2, khoản 3 Điều 203 Bô luật hinh sự năm 2015: Xử phat bi cáo Nguyên Đinh S 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thơi gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tinh từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phat bổ sung bi cáo 15.000.000 (Mươi lăm triệu) đồng sung công quy nhà nước. Xử phat bi cáo Nguyên Đinh D 16 (Mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thơi gian thử thách là 32 (Ba mươi hai) tháng tinh từ ngày tuyên án sơ

thẩm. Phat bổ sung bi cáo 10.000.000 (Mươi triệu) đồng sung công quy nhà nước. Giao bi cáo Nguyên Đinh S cho UBND phương Tăng Nhơn Phu A, quận 9, thành phố Hồ Chi Minh giám sát, giáo d c trong thơi gian thử thách. Giao bi cáo Nguyên Đinh D cho UBND thi trân Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nôi giám sát, giáo d c trong thơi gian thử thách. Trương hợp ngươi được hưởng án treo thay đổi nơi cư tru thi thực hiện theo quy đinh tai khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hinh sự. Áp d ng Điều 41 Bô luật hinh sự năm 1999 và Điều 106 Bô luật tố t ng hinh sự 2015. Tich thu sung công quy nhà nước số tiền thu lợi bât chinh của Nguyên Đinh S là 90.564.982 đồng, của bi cáo D là 13.922.869 đồng ( Xác nhận bi cáo S đã nôp 90.564.982 đồng và bi cáo D đã nôp 20.000.000 đồng). Hoàn trả bi cáo D số tiền 6.077.131 đồng nhưng tam giữ để đảm bảo thi hành án. (Theo ủy nhiệm chi ngày 05/12/2017 giữa Công an Tinh Băc ninh và Chi c c Thi hành án dân sự huyện Thuận Thành và theo biên lai thu tiền số AA/2014/000 7683 ngày 06/03/2018 của C c Thi hành án dân sự huyện Thuận Thành tinh Băc Ninh). Về an phí: Áp d ng Điều 136 Bô luật Tố t ng hinh sự; Nghi quyêt số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thương v Quốc hôi ngày 30/12/2016 về án phi và lệ phi Tòa án. Các bi cáo Nguyên Đinh S và Nguyên Đinh D mỗi bi cáo phải chiu 200.000đồng án phi hinh sự sơ thẩm. Các bi cáo được quyền kháng cáo trong thơi han 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngươi co quyền lợi và nghia v liên quan văng mặt được quyền kháng cáo trong han 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đat bản án. Nơi n ận :

Cỡ chữ