- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSST Nguyễn Tiến D phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản" - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2018/HSST Ngày 16-5-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ-TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
2. Bà Hà Thị Hải
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Trọng Tú -Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hiển- Kiểm sát viên.
Ngày 16/5/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê- tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2018/HSST, ngày 24/4/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2018/QĐXX-ST ngày 03/5/2018 đối với:
Bị cáo Nguyễn Tiến D –sinh ngày 24/01/1997 tại xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT: Khu 08, xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ; tạm trú tại: Khu 05, thị trấn S, huyện C, tỉnh Phú Thọ; tên gọi khác: không; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; con ông Nguyễn Tiến A - sinh năm 1972 và bà Bùi Thị M - sinh năm 1976; chưa có vợ, con; tiền sự, tiền án: Không; danh chỉ bản số 069 do Công an huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ lập ngày 11/02/2018; không bị bắt tạm giữ, tạm giam và được tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.
*Người bị hại:
Anh Đỗ Minh N - sinh năm 1993; cư trú tại: Khu 11, thị trấn S, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 09/02/2018, sau khi đi uống rượu cùng với bạn xong, Nguyễn Tiến D - sinh năm 1997 điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Vios BKS: 30E - 364.98 chở bạn là Lê Văn T, sinh năm 1990 ở khu 3 Thị trấn S đến quán Karaoke S thuộc khu 3 thị trấn S, huyện C để hát. Khi D điều khiển xe ô tô đến cổng quán karaoke S, D thấy có một nhóm thanh niên đang đứng ngoài cổng quán, D điều khiển xe ô tô vào trong cổng quán thì nghe có tiếng “ bộp ” ở phía đuôi xe ô tô, do nghĩ rằng có người đá vào phía đuôi xe ô tô của mình nên D đã dừng xe lại, hạ cửa kính cánh cửa bên lái xuống và chửi “ Đ.mẹ đứa nào đá vào xe tao? ”. Trong nhóm thanh niên đang đứng ở đó thì có Đỗ Minh N sinh năm 1993, ở khu 11 thị trấn S đã đi lại phía cửa bên lái (chỗ D ngồi), N dùng tay đấm 2 hoặc 3 cái vào mặt của D và nói: “ mày xuống tao bảo”. D mở cửa và xuống xe thì N tiếp tục lao vào dùng tay, chân đấm đá vào người D. Lúc này có Nguyễn Minh K, sinh năm 1992 ở khu T, xã P, huyện C đi cùng với nhóm của N cũng lao vào dùng tay phải đấm vào vai D một cái, dùng tay trái đấm vào vùng sườn bên phải D 2 hoặc 3 cái. Do thấy nhóm thanh niên có mặt tại đây đông nên D không đánh lại mà chỉ dùng tay ôm đầu, còn N và K không thấy D đánh lại nên cũng không đánh D nữa. Sau đó, D điều khiển xe đi về ngã tư thị trấn S. Đến khoảng 00 giờ 15 phút ngày 10/02/2018, do tức giận vì bị anh N đánh nên D đã điều khiển xe ô tô đến nhà anh N ở khu 11 thị trấn S, D đỗ xe ở lề đường bên phải (theo hướng thị trấn S đi xã Y) phía trước cửa nhà anh N. Sau đó D cởi trần và lấy trong xe ra 01 thanh kim loại, hình trụ tròn dạng ống màu đen có chiều dài 51,5cm, hai đầu thanh kim loại được gắn, ghép nối với khung có lỗ hình tròn, trong đó phần kim loại màu đen hình trụ tròn dài 32,7cm, đường kính 2cm, phần kim loại màu trắng (ghép nối liền với phần kim loại màu đen) có chiều dài 12,8cm, đường kính 1cm. D cầm ở tay phải và đi lại phía cửa cuốn nhà anh N đập liên tiếp khoảng 10 cái vào cửa cuốn bằng nhôm nhà N, vừa đập D vừa chửi “Đ. Mẹ thằng N”. Hậu quả làm cửa cuốn bằng nhôm nhà anh N bị hư hỏng 15 thanh cửa. Lúc này tổ công tác của công an huyện Cẩm Khê phát hiện, ngăn chặn, hành vi vi phạm của D và đưa D về trụ sở công an huyện Cẩm Khê để giải quyết.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ của D: 01 thanh kim loại, hình trụ tròn dạng ống màu đen có chiều dài 51,5cm , hai đầu thanh kim loại được gắn, ghép nối với khung có lỗ hình tròn, trong đó phần kim loại màu đen hình trụ tròn dài 32,7cm, đường kính 2cm, phần kim loại màu trắng( ghép nối liền với phần kim loại màu đen) có chiều dài 12,8cm, đường kính 1cm. Tại khung có lỗ hình tròn hai đầu của thanh kim loại có bám dị vật màu nâu, đen trắng; thu giữ tại sàn để chân ghế phụ phía trước xe ô tô biển kiểm soát 30E – 364.98: 01 thanh kim loại hình trụ tròn, rỗng giữa, có màu
ại bản kết luận định giá tài sản số 30 ngày 10/02/2018 kết luận: “ 15 thanh nhôm cửatrắng, có chiều dài 34,7 cm, đường kính đầu 2,4cm.
T cuốn loại AUSTDOOR bị móp méo, rách, trà sát mất kim loại, mỗi thanh dài 3,93m, có giá trị thiệt hại là 4.421.250đ. Tiền công sửa chữa 800.000đ. Tổng giá trị thiệt hại là 5.221.250đ ”.
Về thương tích do Đỗ Minh N và Nguyễn Minh K gây ra cho D. Quá trình điều tra Nguyễn Tiến D từ chối giám định thương tích và không yêu cầu N, K phải bồi thường gì.
Trong vụ án này Đỗ Minh N và Nguyễn Minh K đã có hành vi dùng tay, chân đánh gây thương tích cho D nên ngày 02/04/2018 Công an huyện Cẩm Khê đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với N và K là đúng quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 10/04/2018, Nguyễn Tiến D đã tự nguyện bồi thường cho anh Đỗ Minh N số tiền 5.200.000đ, anh N không đề nghị bồi thường gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với D.
Tại Cơ quan điều tra, bị can D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKSCK-PT, ngày 23/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đã quyết định truy tố Nguyễn Tiến D về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 178 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
1-Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 178; Điểm b, I, s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51 và Điều 35 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Tiến D từ 10- 15.000.000đồng để sung quỹ nhà nước.
2-Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Khoản 1 điều 48 của Bộ luật hình sự
Xác nhận bị cáo Nguyễn Tiến D đã thỏa thuận bồi thường cho anh Đỗ Minh N 5.200.000đồng.
3-Về xử lý vật chứng:
Áp dụng: Khoản 1Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1 và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu của bị cáo Nguyễn Tiến D 02 thanh kim loại đã thu giữ.
4-Về án phí:
Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Tiến D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Tiến D không tranh luận và có lời nói sau cùng là: Bị cáo rất ân hận về hành vi của bản thân, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm và bị cáo cam đoan không bao giờ vi phạm pháp luật hoặc phạm tội nữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về căn cứ buộc tội:
Lời khai của bị cáo Nguyễn Tiến D tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ, nên có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 0 giờ 15 phút ngày 10/02/2018 tại khu 11, thị trấn S, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Do tức giận vì bị anh Đỗ Minh N đánh trước đó, bị cáo Nguyễn Tiến D có hành vi dùng thanh kim loại đập vào cửa cuốn bằng nhôm của gia đình anh Đỗ Minh N, làm hỏng 15 thanh cửa với tổng trị giá thiệt hại là 5.221.250đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 178 của Bộ luật hình sự. Do vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Nguyễn Tiến D là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
. Về nhân thân: Bị cáo không có tiền sự, tiền án.
. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng, nhưng được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự là: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự là người bị hại cũng có lỗi và người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, trên cơ sở để phục vụ công tác đấu tranh chống, phòng ngừa chung tội phạm và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là áp dụng hình phạt tiền với mức đủ để bị cáo tỉnh ngộ, sớm cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 điều 178 của Bộ luật hình sự, thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng. Tuy nhiên, bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, nên để tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo trong quá trình chấp hành án, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Duy.
. Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, bị cáo D đã thỏa thuận bồi thường cho người bị hại 5.200.000đồng và người bị hại không có yêu cầu gì khác, nên cần xác nhận.
.Về xử lý vật chứng: 01 thanh kim loại đã thu giữ của bị cáo D là công cụ phạm tội, 01 thanh kim loại không còn giá trị sử dụng và bị cáo D không đề nghị lấy lại, cần tịch thu để tiêu hủy.
. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tiến D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến D phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 điều 178; điểm b, I, s khoản 1 và khoản 2 điều 51; khoản 1, 3 điều 35 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo: Nguyễn Tiến D 11.000.000đ (Mười một triệu) đồng để sung quỹ nhà nước. Thời hạn nộp tiền kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2.Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng: Khoản 1 điều 48 của Bộ luật hình sự.
Xác nhận bị cáo Nguyễn Tiến D đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại về tài sản cho người bị hại là anh Đỗ Minh N 5.200.000đồng.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng: Điểm a khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 1, Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu của bị cáo Nguyễn Tiến D 02 thanh kim loại (có đặc điểm theo Biên bản giao vật chứng đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê ngày 23/4/2018) để tiêu hủy.
4. Về án phí:
Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo Nguyễn Tiến D phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo D mặt được quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: -VKSND huyện Cẩm Khê; -VKSND tỉnh Phú Thọ; -CQCSĐT CA huyện Cẩm Khê; -THADS huyện Cẩm khê; -THAHS; -Người tham gia tố tụng; -Lưu hồ sơ + VP; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Thắng |