vanban.org

Bản án 21/2018/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Đồ Sơn, TP. Hải Phòng Tuyên án 06/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án;

Bị hại chị Bùi Thị M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Th có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Đình C phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN ĐỒ SƠN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2018/HS-ST
Ngày 06-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Văn Hoàng - Thư ký Toà án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Vũ Duy Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 06-11-2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2018/TLST-HS ngày 30-10-2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2018/QĐXXST-HS ngày 31-10-2018 và Thông báo sửa chữa, bổ sung quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2018/TB-TA ngày 05-11-2018, đối với bị cáo:

Hoàng Đình C, sinh ngày 13 tháng 02 năm 1970 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 3/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình L và bà Lê Thị C; có vợ là Nguyễn Thị T và 02 con, lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2005; tiền sự: Không; tiền án: Bản án số 14 ngày 21-6-2016 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, ra trại ngày 20-3-2018; nhân thân: Bản án số 04 ngày 27-9-1991 của Tòa án nhân dân thị xã Đồ Sơn xử 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, Bản án số 11 ngày 19-11-1993 của Tòa án nhân dân thị xã Đồ Sơn xử 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, Bản án số 231 ngày 08-7-1995 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, Bản án số 71 ngày 12-3-1999 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, Bản án số 21 ngày 29-10-2007 của Tòa án nhân dân thị xã Đồ Sơn xử 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, Bản án số 16 ngày 25-6-2012 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn xử 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, Bản án số 42 ngày 31-10-14 của Tòa án nhân dân quận Dương Kinh xử 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đều đã được xóa án tích); bị bắt tạm giữ từ ngày 09-10-2018 đến ngày 12-10-2018 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo C: Ông Trần Minh N - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị hại: Chị Bùi Thị M, sinh năm 1985, nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1969, nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Bùi Văn T, vắng mặt.

2. Anh Bùi Đức D, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07 giờ 15 phút ngày 09-10-2018, Hoàng Đình C đi xe đạp mi ni màu trắng từ nhà đến phường Minh Đức, quận Đồ Sơn với mục đích xem có ai sơ hở thì trộm cắp tài sản. Vào khoảng 08 giờ 15 phút cùng ngày, khi C đi đến cổng nhà chị Bùi Thị M, C thấy trong nhà không có ai nên để xe đạp ngoài cổng rồi đi vào phòng khách, nhìn thấy trên mặt bàn có một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71, C cầm lấy chiếc điện thoại ở tay trái rồi nhanh chóng đi ra khỏi cổng thì bị chị M phát hiện hô hoán, C cho chiếc điện thoại vào túi quần bên trái phía trước rồi đạp xe bỏ chạy thì bị quần chúng nhân dân và Công an phường Minh Đức bắt giữ, thu giữ trong túi quần bên trái phía trước C đang mặc chiếc điện thoại di động nêu trên cùng chiếc xe đạp mi ni màu trắng.

Tại Bản kết luân định giá số 13/KL-HĐĐG ngày 11-10-2018 của Hội đồng định giá tài sản quận Đồ Sơn kết luận: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 có giá trị 1.890.000 đồng.

Về vật chứng của vụ án: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 và một chiếc xe đạp mi ni màu trắng đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Chị M không yêu cầu C phải bồi thường dân sự.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKS ngày 13-01-2017 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đúng như nội dung quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn. Bị cáo thừa nhận đã chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 đúng như bản Kết luận của Hội đồng định giá tài sản, vật chứng của vụ án bị Cơ quan Điều tra thu giữ đúng như quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn đã nêu. Bị cáo thừa nhận việc bị điều tra, truy tố, xét xử là không sai, không bị ép buộc khai báo không đúng sự thật.

Bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và có văn bản trình bày việc bồi thường đã xong, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn đã nêu. Đề nghị Thẩm phán xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị không xem xét.

Về án phí, đề nghị Thẩm phán xét xử căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Thẩm phán xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên.

Bị cáo C thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo biết hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật, rất ăn năn hối hận và mong Thẩm phán xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra và Điều tra viên Công an quận Đồ Sơn; Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai của bị cáo Hoàng Đình C tại phiên toà phù hợp các tài liệu điều tra có trong hồ sơ vụ án. Được chứng minh bằng lời khai của bị hại, người làm chứng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, kết luận định giá tài sản, biên bản khám xét và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã làm rõ: Vào hồi 08 giờ 15 phút ngày 09-10-2018, tại tổ dân phố Đ, phường M, quận Đồ Sơn, C lợi dụng sơ hở của chị Bùi Thị M, lén lút chiếm đoạt tài sản là chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A71, màu trắng - hồng, đã qua sử dụng với giá trị theo Kết luận của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự là 1.890.000 đồng.

Bị cáo C có một tiền án về tội trộm cắp tài sản (Bản án 14 ngày 21-6-2016 của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản) chưa được xóa án tích mà lại trộm cắp tài sản là chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A71 có giá trị 1.890.000 đồng nên có đủ cơ sở để Thẩm phán xét xử kết luận hành vi của bị cáo C đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự. Vì vậy, cần xử bị cáo mức án nghiêm và tiếp tục cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải theo điểm s; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn theo điểm h; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có 08 tiền án, trong đó có 07 tiền án đã được xóa án tích. Thể hiện các bị cáo có nhân thân rất xấu, không có ý thức sửa chữa sai lầm, coi thường pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Bùi Thị M; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Th đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu nào khác. Vì vậy, Thẩm phán xét xử không xem xét giải quyết về việc bồi thường thiệt hại.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 và một chiếc xe đạp mi ni màu trắng đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định pháp luật;

Về vấn đề khác: Bị cáo C đã sử dụng chiếc xe đạp mi ni màu trắng để làm phương tiện đi trộm cắp tài sản. Đây là tài sản của chị Nguyễn Thị Th (là vợ của C), chị Th không biết việc C sử dụng để làm phương tiện đi trộm cắp nên Cơ quan điều tra không xử lý xử lý là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Hoàng Đình C 18 (Mười tám) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giữ 09-10-2018.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo C được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Bị cáo C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án;

Bị hại chị Bùi Thị M có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Th có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ