vanban.org

Bản án 21/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 27/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Văn H: Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999…"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…

Số: 21/2018/HS-ST

Ngày: 27/03/2018

T À ÁN NHÂN DÂN CỘNG H À XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN CM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H À XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM T À ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CM, TỈNH B C KẠN - hành phần Hội đ ng xét xử sơ thẩm g m có: Thẩ phán - Chủ t a phiên toà: Bà L ờng Thị Phẩm Các Hội thẩ nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn H ng 2. Ông D ơng Văn Hà - hư ký phiên toà: Ông Bảo Thanh Toàn, là Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Hữu Học - Kiểm sát viên. Trong ngày 27 tháng 3 năm 2018, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện CM, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2018/HSST, ngày 01 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử số: 24/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo: Vương Văn H, sinh năm 1976 tại xã TM, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn; Nơi Đăng ký Hộ khẩu th ờng trú: Thôn PL, xã TM, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn; Chỗ ở hiện nay: Thôn TT, xã TM, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/10; dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông V ơng Văn B và bà Lê Thị H; Bị cáo có vợ là Hà Thị K (đã ly hôn) và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/9/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa. * Ng ời làm chứng: - Anh Hà Đức S, sinh năm 1985; Trú tại: Thôn PK, xã TV, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt); - Anh Nông Văn T, sinh năm 1975; Trú tại: Thôn NP, xã TM, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đ ợc tóm tắt nh sau:

Khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 18 tháng 9 năm 2017 Công an huyện CM, tỉnh Bắc Kạn nhận đ ợc tin tố giác của quần chúng nhân dân về việc tại x ởng gỗ thuộc thôn TT, xã TM, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn có một số đối t ợng có biểu hiện mua bán trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành xác minh, kiểm tra và bắt quả tang V ơng Văn H và Hà Đức S đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ của V ơng Văn H gồm: 03 gói nhỏ đ ợc gói bằng loại giấy trắng có chữ viết, bên trong có chứa chất bột màu trắng nghi là Hêrôin và số tiền 286.000đ thu tại túi quần bò đằng sau bên phải của V ơng Văn H đang mặc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NoKia loại Lumia 830 màu đen, cũ, đã qua sử dụng, bên trong có 01 thẻ Sim số thuê bao 0968.363.011 tại túi quần đằng tr ớc bên phải của H đang mặc. Thu giữ của Hà Đức S 01 gói nhỏ, lớp ngoài là túi nilon màu trắng, bên trong là giấy trắng có chữ viết chứa chất bột màu trắng nghi là Hêrôin tại túi áo ngực bên trái Hà Đức S đang mặc. Trên cơ sở đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện CM, tỉnh Bắc Kạn đã tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở và khu vực phụ cận của đối t ợng V ơng Văn H, kết quả thu tại giữa khe mặt bàn gỗ hình chữ nhật trong x ởng chế biến lâm sản của H 01 gói nhỏ đ ợc gói bằng giấy trắng có chữ viết, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là Hêrôin. Tại cơ quan điều tra V ơng Văn H khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 17/9/2017 H mua 01 gói nhỏ ma túy (Hêrôin) với một ng ời đàn ông không quen biết tại đầu cầu treo thuộc thôn NĐ, xã NT, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn với giá tiền 250.000đ nhằm mục đích để sử dụng và bán lại cho những ng ời nghiện để kiếm lời. Sau khi mua xong H về nhà chia thành 05 gói nhỏ. Đến khoảng 21 giờ ngày 17/9/2017, H bán 01 gói nhỏ ma túy cho Nông Văn T, trú tại: Thôn NP, xã TM, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn với giá 100.000đ. Tiếp đó, khoảng 11 giờ 30 phút, ngày 18/9/2017 H bán 01 gói nhỏ ma túy cho Hà Đức S, trú tại: Thôn Phiêng Khảo, xã TV, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn với giá 100.000đ. Sau khi bán ma túy cho Sâm thì H bị Tổ công tác Công an huyện CM bắt quả tang H tàng trữ 03 gói ma túy trên ng ời nh đã nêu ở trên. Ngoài ra, H khai nhận 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu nhãn hiệu NoKia loại Lumia bên trong có 01 thẻ Sim số thuê bao 0968.363.011 là của H dùng để liên lạc với ng ời thân trong gia đình; Số tiền 286.000đ là của H, trong đó có 100.000đ là tiền H bán ma túy cho Sâm mà có, số tiền còn lại là của H; 01 gói ma túy Tổ công tác Công an huyện CM thu giữ tại giữa khe mặt bàn gỗ hình chữ nhật trong x ởng chế biên lâm sản là của H, mục đích là để sử dụng và bán lại cho những ng ời nghiện ma túy nh ng không nhớ số ma túy trên mua ở đâu, thời gian nào. Trong quá điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nh đã nêu ở trên. Bị cáo nhận định hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất a túy”. Tại biên bản đóng mở niêm phong cân xác định trọng l ợng ngày 18/9/2017 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện CM, tỉnh Bắc Kạn xác định: 03 gói nhỏ chất bột màu trắng thu giữ trên ng ời của V ơng Văn H là 0,154 gam niêm phong trong phong bì ký hiệu H. Trích 0,020 gam niêm phong trong phong bì ký hiệu H3 gửi giám định, số còn lại là 0,134 gam chất bột màu trắng cùng giấy gói tang vật đ ợc niêm phong trong phong bì ký hiệu H4 là tang vật của vụ án. 01 gói nhỏ chất bột màu trắng thu giữ tại khe mặt bàn gỗ hình chữ nhật trong x ởng chế biến lâm sản của H có trọng

l ợng 0,046 gam niêm phong trong phong bì ký hiệu H1. Trích toàn bộ chất bột màu trắng trên niêm phong tại phong bì H5 gửi giám định. Giấy gói tang vật niêm phong trong phong bì H6 là tang vật vụ án. 01 gói chất bột màu trắng của Hà Đức S có trọng l ợng 0,018 gam niêm phong tại phong bì ký hiệu S. Trích toàn bộ chất bột màu trắng trên niêm phong tại phong bì ký hiệu S1 gửi giám định. Giấy gói tang vật niêm phong tại phong bì ký hiệu S2 là tang vật vụ án. Sau khi giám định số mẫu chất còn lại tổng cộng 0,05 gam (Trong phong bì S1 còn lại 0,011g, H3 còn lại 0,010g, H5 còn lại 0,029g), bao gói cũ đ ợc niêm phong tại phong bì mới ký hiệu T126. Tại bản kết luận giám định số 126/KTHS-MT ngày 11/10/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trong 03 phong bì ký hiệu S1, H3, H5 gửi giám định đều là ma túy, loại Hêrôin”. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về khối l ợng ma túy cũng nh kết luận giám định. * Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố tại Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 01/02/2018 của VKSND huyện CM truy tố bị cáo V ơng Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể nh sau: - V ơng Văn H phạm tội: “Mua bán trái phép chất a túy”. - Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm o, p khoản 1 khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017. Xử phạt: Bị cáo V ơng Văn H từ 06 đến 07 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2017. + Hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng Khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 đề nghị phạt tiền bị cáo từ 5 đến 6 triệu đồng. - Biện pháp t pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 41,42 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung 2009 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: + Tịch thu tiêu hủy tang vật vụ án gồm: 01 phong bì ký hiệu H4 có 03 chữ ký giáp lai của V ơng Văn H bên trong có chứa 0,0134 gam ma túy ( Hêrôin) cùng giấy gói tang vật có 03 chữ ký giáp lai của V ơng Văn H; 01 phong bì ký hiệu H6 có 03 chữ ký giáp lai của V ơng Văn H bên trong có chứa giấy gói tang vật vụ án; 01 phong bì ký hiệu S2 có 03 chữ ký của Hà Đức S bên trong chứa giấy gói tang vật; 01 phong bì ký hiệu T126 bên trong có 0,05 gam ma túy (Hêrôin) cùng phong bì, bao gói cũ là mẫu vật hoàn trả sau giám định; 01 thẻ SIM số thuê bao 0968.363.011. + Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu NoKia, loại Lumia màu đen, cũ, đã qua sử dụng. + Đối với số tiền 286.000đ đ ợc niêm phong tại phong bì có dấu tròn đỏ của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chi nhánh huyện CM trong đó:

100.000đ do bị cáo phạm tội mà có cần tịch thu nộp ngân sách nhà n ớc; số tiền 186.000đ còn lại tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo. + Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 100.000đ do phạm tội mà có để sung công quỹ nhà n ớc. - Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2006/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo nói lời sau cùng, mong Hội đồng xét xử xem xét xử với mức án thấp nhất. Bị cáo V ơng Văn H nói lời sau cùng có ý kiến mong Hội đồng xét xử xem xét xử với mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩ tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện CM, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Tại phiên toà, bị cáo V ơng Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Nh vậy có đủ cơ sở kết luận: Với mục đích kiếm lợi nhuận từ việc mua bán ma túy, V ơng Văn H đã thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy (hêrôin) 02 lần cho 02 đối t ợng tại nhà ở của mình cụ thể: Lần 1, khoảng 21 giờ ngày 17/9/2017, H bán 01 gói nhỏ ma túy cho Nông Văn T với số tiền 100.000đ; lần 2, khoảng 11 giờ 30 phút ngày 18/9/2017, H bán cho Hà Đức S 01 gói nhỏ ma túy với giá 100.000đ. [3] Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất a túy” quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên căn cứ vào Nghị quyết số 41/2017/QH14; khoản 2 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 thì hành vi phạm tội của V ơng Văn H thực hiện tr ớc ngày 01/01/2018; Quy định của Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 không có lợi cho bị cáo do có quy định thêm 01 hành vi phạm tội mới là tình tiết định khung tại điểm c khoản 2 Điều 251 là “Đối với 02 người trở lên”. Vì vậy, cần áp dụng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 để xét xử bị cáo. Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 có nội dung: “1. Người nào … ua bán trái phép ... chất a túy, thì bị phạt tù từ hai nă đến bảy nă . 2. Phạ tội thuộc ột trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy nă đến ười lă nă : a) …

b) Phạ tội nhiều lần”; [4] Xét hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý về các chất ma tuý của nhà n ớc, là mối hiểm họa cho cộng đồng, làm ảnh h ởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa ph ơng, bởi vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình đã gây ra và phải đ ợc xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. [5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng. Trong quá trình điều tra bị cáo “tự thú” về hành vi bán ma túy; Tại phiên tòa, bị cáo có thái độ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; Bị cáo có bố đẻ là ông V ơng Văn Bảng đ ợc tặng th ởng Huy ch ơng kháng chiến hạng nhất. Vì vậy bị cáo đ ợc h ởng tình tiết giảm nhẹ đ ợc quy định tại điểm o, p khoản 1 khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. [6] Về vật chứng trong vụ án: + Tịch thu tiêu hủy tang vật vụ án gồm: 01 phong bì ký hiệu H4 có 03 chữ ký giáp lai của V ơng Văn H bên trong có chứa 0,0134 gam ma túy ( Hêrôin) cùng giấy gói tang vật có 03 chữ ký giáp lai của V ơng Văn H; 01 phong bì ký hiệu H6 có 03 chữ ký giáp lai của V ơng Văn H bên trong có chứa giấy gói tang vật vụ án; 01 phong bì ký hiệu S2 có 03 chữ ký của Hà Đức S bên trong chứa giấy gói tang vật; 01 phong bì ký hiệu T126 bên trong có 0,05 gam ma túy (Hêrôin) cùng phong bì, bao gói cũ là mẫu vật hoàn trả sau giám định; Đối với 01 thẻ SIM số thuê bao 0968.363.011 bị cáo xác định không còn giá trị sử dụng, không yêu cầu lấy lại, xét thấy cần tịch thu tiêu hủy. + Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu NoKia, loại Lumia màu đen, cũ, đã qua sử dụng. + Đối với số tiền 286.000đ đ ợc niêm phong tại phong bì có dấu tròn đỏ của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chi nhánh huyện CM trong đó: 100.000đ do bị cáo phạm tội mà có cần tịch thu nộp ngân sách nhà n ớc; số tiền 186.000đ còn lại tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo. + Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 100.000đ do phạm tội mà có để nộp ngân sách nhà n ớc. [7] Về hình phạt bổ sung: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ máy móc và số gỗ tại x ởng chế biến lâm sản là của bị cáo. Ngoài ra bị cáo còn đất đai, t liệu sản xuất. Xét thấy, bị cáo có tài sản, cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo nhằm răn đe và phòng ngừa chung. [8] Trong vụ án này các đối t ợng Hà Đức S, Nông Văn T có hành vi mua ma túy trái phép với V ơng Văn H. Tuy nhiên, hành vi của Sâm, Thủy ch a đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ xem xét xử lý hành chính, xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật. Đối với ng ời đàn ông đã bán cho H 01 gói nhỏ ma túy với giá 250.000đ ngày 17/9/2017 tại đầu cầu treo thuộc thôn NĐ, xã NT, huyện CM, tỉnh Bắc Kạn.

Qua xác minh không xác định đ ợc tên, tuổi, địa chỉ của ng ời này nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xem xét xử lý. [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên; Qu Õt ®Þnh: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1 khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Khoản 2 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14. 1. Tuyên bố: Bị cáo V ơng Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất a túy”. Xử phạt bị cáo V ơng Văn H 06 (Sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2017. Áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 Phạt tiền bị cáo V ơng Văn H 5.000.000đ (Nă triệu đồng) để nộp ngân sách nhà n ớc. 2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 41, 42 của Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: + Tịch thu tiêu hủy tang vật vụ án gồm: 01 phong bì ký hiệu H4 có 03 chữ ký giáp lai của V ơng Văn H bên trong có chứa 0,0134 gam ma túy (Hêrôin) cùng giấy gói tang vật có 03 chữ ký giáp lai của V ơng Văn H; 01 phong bì ký hiệu H6 có 03 chữ ký giáp lai của V ơng Văn H bên trong có chứa giấy gói tang vật vụ án; 01 phong bì ký hiệu S2 có 03 chữ ký của Hà Đức S bên trong chứa giấy gói tang vật; 01 phong bì ký hiệu T126 bên trong có 0,05 gam ma túy (Hêrôin) cùng phong bì, bao gói cũ là mẫu vật hoàn trả sau giám định; 01 thẻ SIM số thuê bao 0968.363.011. + Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu NoKia, loại Lumia màu đen, cũ, đã qua sử dụng. + Đối với số tiền 286.000đ đ ợc niêm phong tại phong bì có dấu tròn đỏ của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, chi nhánh huyện CM: Tịch thu nộp ngân sách nhà n ớc số tiền 100.000đ do bị cáo phạm tội mà có; số tiền 186.000đ còn lại tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo. + Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 100.000đ do phạm tội mà có để nộp ngân sách nhà n ớc. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận ngày 05 tháng 02 nă 2018 giữa Công an huyện CM và Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM). 2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2006/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà n ớc. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ