- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trọng B - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2018/HS-ST Ngày: 28/5/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
)
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tường Vy.
Các Hội thẩm nhân dân
+ Ông: Nguyễn Như Phương;
+ Ông Trương Văn Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2018/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2018/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa: 05/2018/HSST-QĐ ngày 10 tháng 5 năm 2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Trọng B, sinh năm 1968, tại tỉnh Q.
- Tên gọi khác: không;
Giới tính: Nam
- Nơi đăng ký HKTT: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Chỗ ở hiện nay: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
- Quốc tịch: Việt Nam
- Dân tộc: Kinh
- Tôn giáo: Không.
Trình độ học vấn: lớp 10/12
- Nghề nghiệp: Làm thuê.
- Họ và tên cha: Nguyễn D – Sinh năm: 1927 (đã chết).
- Họ và tên mẹ: Hoàng Thị S – Sinh năm 1930 (đã chết).
- Gia đình có 03 anh em, bị can là con út.
- Vợ: Trần Thị C – Sinh năm: 1969.
- Bị cáo có 02 người con: con đầu sinh năm 1995, con út sinh năm 1996.
- Tiền sự: kh ng.
- Tiền án: 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, bị Toà án nhân dân huyện Cẩm Mỹ tuyên phạt 08 tháng tù giam, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 07/12/2016.
Bị cáo B bị bắt tạm giam t ngày 07/02/2018 và đến ngày 26/02/2018 thay thế biện pháp ngăn ch n cấm đi kh i nơi cư trú đến ngày 16/5/2018 bị bắt và tạm giam cho đến nay.
* Người bị hại: chị Hà Thị Hồng N – Sinh năm: 1990. Địa chỉ: ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. (Vắng m t)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 18/01/2018, đi bộ t Ngã ba xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai để về nhà của B tại ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Khi đi đến nhà của chị Hà Thị Hồng N, trú tại ấp , xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai, Bphát hiện trước hiên nhà có để 01 (một xe đạp mang nhãn hiệu Lucia, màu trắng bạc nên nảy sinh ý định trộm cắp. Sau khi quan sát xung quanh, B thấy nhà không có cổng, kh ng có người trông coi nên B đi vào bên trong sân dắt xe đạp ra kh i nhà và điều khiển xe chạy đến đoạn đường thuộc ấp L, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an xã X, huyện C phát hiện, bắt gi c ng tang vật.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐG ngày 24/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C xác định giá trị tài sản bị xâm hại là 980.000 đồng (Chín trăm tám mươi nghìn đồng).
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Trọng B phù hợp với lời khai người bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Trọng B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại kh ng lớn.
*Vật chứng của vụ án: 01 (một xe đạp khung bằng kim loại, mang nhãn hiệu Lucia, màu Trắng bạc đã trả lại cho chủ sở h u là chị Hà Thị Hồng N.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Hà Thị Hồng N đã nhận lại tài sản của mình và kh ng có yêu cầu gì thêm.
Bản cáo trạng số: 16/CT-VKS ngày 27 tháng 3 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Trọng B về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa h m nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai vẫn gi nguyên cáo trạng.
Bị cáo Nguyễn Trọng B nói lời sau cùng: bị cáo rất hối hận về hành vi của mình và xin HĐXX xem xét để có thể giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm về với gia đình làm c ng dân tốt. Bị cáo xin HĐXX cho bị cáo được tại ngoại để về uống thuốc điều trị bệnh, khi nào bản án có hiệu lực bị cáo sẽ chấp hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lợi dụng sự sơ hở của người bị hại về quản lý tài sản, bị cáo Nguyễn Trọng B đã lén lút vào nhà của chị Hà Thị Hồng N lấy đi 1 chiếc xe đạp mang nhãn hiệu Lucia, màu trắng bạc. Tại bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐG ngày 24/01/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cẩm Mỹ xác định giá trị tài sản bị xâm hại là 980.000 đồng (Chín trăm tám mươi nghìn đồng).
M c dù tài sản bị xâm phạm chưa đủ định lượng là 2.000.000 đồng nhưng vì bản thân bị cáo đã có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”, bị Toà án nhân dân huyện Cẩm Mỹ tuyên phạt 08 tháng tù giam, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 07/12/2016, tính đến nay bị cáo vẫn chưa đủ thời gian để xóa án tích theo quy định tại Điều 70 BLHS 2015. Vì vậy, hành vi của bị cáo B đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Với nh ng chứng cứ trên, đã có đủ cơ sở kết luận: Cáo trạng của VKSND huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Trọng B phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 LHS năm 2015 là đúng pháp luật.
Xét thấy, bị cáo là đã trưởng thành và đã có vợ con, bị cáo có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Nhưng vì muốn có phương tiện đi lại nên bị cáo đã lấy trộm xe của người khác. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nó xâm phạm trực tiếp quyền sở h u hợp pháp của người khác, đồng thời gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.
Để đưa ra mức hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo, HĐXX cần xem xét toàn bộ các tình tiết tăng n ng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội gây thiệt hại kh ng lớn, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã được thu hồi trả lại cho bị hại theo điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 LHS 2015.
- Về tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là kh ng có.
Với nh ng nhận định trên xét cần áp dụng hình phạt t , cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành một c ng dân tốt, có ích cho xã hội.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Mỹ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật TTHS. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa h m nay, đại diện VKSND huyện Cẩm Mỹ gi nguyên quyết định truy tố và đề nghị xử phạt: bị cáo Nguyễn Trọng mức án t : 07 tháng đến 10 tháng tù giam.
Các ý kiến khác của VKSND là ph hợp với nhận định của HĐXX nên ghi nhận, tuy nhiên về mức án đề xuất là cao hơn so với ý kiến của HĐXX nên kh ng ghi nhận.
Đối với ý kiến của bị cáo đề nghị cho tại ngoại để uống thuốc, xét thấy căn cứ để thay đổi, hủy b biện pháp tạm giam hay trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa h m nay theo quy định tại Điều 278, Điều 328 LHS 2015 thì bị cáo kh ng thuộc trường hợp nào theo quy định. Vì vậy, yêu cầu của bị cáo là kh ng được chấp nhận và để đảm bảo việc thi hành án xét thấy cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo.
* Về vật chứng vụ án: là 01 xe đạp khung bằng kim loại, mang nhãn hiệu Lucia, màu trắng bạc đã trả lại cho chủ sở h u là chị N nên kh ng đ t ra xem xét.
* Về trách nhiệm dân sự: chị N không có yêu cầu nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Trọng B nộp 200.000 đồng án phí HSST.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173 điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS 2015. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Trọng B: 06 (Sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính t ngày 16/5/2018 (được khấu tr thời gian bị cáo bị tạm gi và tạm giam t ngày 07/02/2018 đến ngày 26/02/2018)
- Về án phí: Điều 135 BLTTHS 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Trọng B nộp 200.000 đồng án phí HSST.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án. Riêng người bị hại vắng m t được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể t ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện; - Sở tư pháp Đồng Nai; - Cơ quan CSĐT Công huyện; - Chi cục THADS; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu HS,AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phạm Thị Tường Vy |