vanban.org

Bản án 21/2018/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 11/04/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 11/04/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Hồng T và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2018/HS-ST, ngày 11/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.

Xử phạt bị cáo Đặng Hồng T 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hành phạt tù tính từ ngày 06/9/2017 . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Đặng Hồng T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Hồng T và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2018/HS-ST, ngày 11/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự xử dưới khung hình phạt; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2018/HS-PT
Ngày: 11-4-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Tân;

Các Thẩm phán:

Ông Triệu Quốc Hiếu;

Bà Huỳnh Thị Kiều Duyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tào Văn Hiển là Thư ký của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 11/4/2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 15/2018/HS-PT ngày 12/02/2018, đối với bị cáo Đặng Hồng T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 03/2018/HSST ngày 11/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.

- Bị cáo có kháng cáo:

Đặng Hồng T, sinh năm 1976, tại Vĩnh Long; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 3/1 đường 8-3, Khóm 4, Phường 5, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long; nơi cư trú: Số 89/27H, đường 8-3, Khóm 3, Phường 5, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: lớp 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Của và bà Nguyễn Thị Đắng; vợ Võ Ngọc Hiếu và 01 con sinh ngày 24/9/2014; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 30/11/2004, bị Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long xử phạt 03 năm tù về tội "Cố ý gây thương tích", chấp hành xong ngày 31/8/2005.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/9/2017 cho đến nay, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: ông Lê Văn Mãng là luật sư của Văn phòng luật sư Ngọc Mẫn, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Hậu Giang bào chữa cho bị cáo Đặng Hồng T, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

ng

t

T

thì nghi lực lượng đã

T

T

T

T

-Xylitol

T

Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định đối với các chất dạng tinh thể đã thu giữ.

-

thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Long, kết luận:

T gam.

T

T 1,2377 gam.

T

,

T

T

T

,

-

. Khi

T

T

T

T

T

.

T T (Methamphetamine).

T

T

T

T

T

T

T

T

T

T người sau:

+ T

+

T

T đ

g. Đồng thời, còn khai nhận bị cáo đã bán ma túy cho một số người lạ không biết rõ họ tên, địa chỉ.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2018/HS-ST, ngày 11/01/2018 của Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Đặng Hồng T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 33, Điều 41, 42 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009; Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Đặng Hồng T 06 (sáu) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/9/2017.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 18/01/2018, bị cáo Đặng Hồng T kháng cáo yêu cầu tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà phúc thẩm hôm bị cáo Đặng Hồng T trình bày: Từ tháng 6 năm 2017 đến ngày 06/9/2017, bị cáo đã bán ma túy cho nhiều người, bị cáo đã biết tội, đã ăn năn hối cải, nên xin cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt vì cha mẹ đã già, con còn nhỏ cần sự chăm sóc, nuôi dưỡng của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Án sơ thẩm xử xong bị cáo kháng cáo xin giảm mức hình phạt. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới, nhưng xét mức hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng dưới mức khung hình phạt là quá nhẹ, nên không có cơ sở để chấp nhận đơn kháng cáo giảm hình phạt cho bị cáo. Do đó, căn cứ Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử y án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Đặng Hồng T và buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Luật sư Lê Văn Mãng trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo: Không tranh luận về tội danh, còn mức hình phạt thì thấy rằng cấp sơ thẩm chưa xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ khác là có chú ruột và cậu ruột của bị cáo là người có công với cách mạng; thêm nữa, tại cấp sơ thẩm, bị cáo có khai đang phải nuôi con nhỏ. Cuối cùng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã biết tội, hối hận việc mua bán ma túy nên xin cấp phúc thẩm giảm hình phạt để bị cáo sớm trở về phụng dưỡng cha, mẹ và nuôi con còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Hồng T đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình là hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, cũng như những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập và thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Đặng Hồng T phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2]. Xét hành vi phạm tội do bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng, gây nguy hại rất lớn cho xã hội. bán ma túy nhiều lần cho nhiều người. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến an ninh, trật tự, trị an ở địa phương, để lại hậu quả rất lớn cho xã hội. Khi sử dụng chất ma túy, con nghiện khó kiềm chế được bản thân, làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác; khi thực hiện tội phạm bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã nhận thức rõ hành vi mà bị cáo thực hiện là sai trái, vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ vụ lợi mà dấn thân vào con đường phạm tội, cố ý thực hiện và mong muốn sự việc xảy ra, bỏ mặc hậu quả nhằm có tiền tiêu xài thỏa mãn nhu cầu cá nhân.

Bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần đây là tình tiết định khung tăng nặng hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự.

Hiện nay tình hình tội phạm về ma túy trên địa bàn Vĩnh Long có chiều hướng không giảm. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian khá dài nhằm giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe những trường hợp tương tự và phòng ngừa chung cho xã hội. Theo khoản 2 Điều 194 của Bộ luật Hình sự quy định: Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm; nhưng án sơ thẩm chỉ xử phạt bị cáo có 06 năm tù, là dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là quá nhẹ. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có cung cấp tình tiết nào mới, có ý nghĩa nhằm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo để giảm hình phạt đối với bị cáo.

Xét lời đề nghị không chấp nhận đơn kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm của Kiểm sát viên là có căn cứ nên chấp nhận.

Đối với luận cứ bào chữa của luật sư đề nghị giảm hình phạt cho bị cáo là không có cơ sở, bởi lẽ: Tệ nạn nghiện ngập ma túy là nỗi lo của toàn xã hội, đối tượng nghiện ngày càng trẻ hóa; việc sử dụng ma túy gây ra hậu quả rất xấu như: làm mai một lực lượng lao động, suy giảm nòi giống, nguyên nhân gây ra các căn bệnh hiểm nghèo; trong khi Đảng và Nhà nước cùng toàn dân ra sức đấu tranh nhằm giảm tỷ lệ người nghiện, tiến tới không còn người sử dụng ma túy. Còn việc luật sư cho rằng, bản án sơ thẩm không xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Chú và cậu của bị cáo là người có công được Nhà nước tặng danh hiệu cao quý cũng không có căn cứ, bởi vì cấp sơ thẩm đã có nhận định “Người thân của bị cáo là người có công với cách mạng”, trong khi người thân này không phải là cha, mẹ, vợ, anh, chị, em hay người nuôi dưỡng bị cáo. Thêm nữa, cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo thật thà khai báo và ăn năn hối cải làm 02 tình tiết giảm nhẹ theo điểm p khoản 1 Điều 46, để áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự xử dưới khung hình phạt, như vậy là đã quá chiếu cố cho bị cáo. Với mức án như trên là đã quá nhẹ cho bị cáo, nên lời đề nghị của luật sư không được chấp nhận.

[3]. Về án phí Hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Hồng T và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2018/HS-ST, ngày 11/01/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long.

Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 194, điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46, Điều 47, Điều 33 của Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009.

Xử phạt bị cáo Đặng Hồng T 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời hạn chấp hành hành phạt tù tính từ ngày 06/9/2017 .

Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a, khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội: Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đặng Hồng T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ