- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh D "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh D và người bị hại Lê Thị U, sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 104 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2018/HS-PT Ngày: 18-4-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Hương
Các Thẩm phán: - Ông Nguyễn Kim Đồng
- Ông Nguyễn Văn Phúc
- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Lương – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Đào - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 21/2018/TLPT-HS ngày 02/02/2018 đối với bị cáo Nguyễn Thanh D do có kháng cáo của bị cáo và bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 119/2017/HS-ST ngày 27/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thanh D, sinh ngày 16/02/1978 tại Bình Định. Nơi cư trú: thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa: lớp 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: không rõ họ tên và bà Mai Thị H, sinh năm 1950; có vợ Nguyễn Thị N, sinh năm 1985 và 02 người con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.
- Người bị hại có kháng cáo: Bà Lê Thị U, sinh năm 1972. Nơi cư trú: thôn N, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà U: Bà Phạm Thị D, sinh năm 1963. Nơi cư trú: số 789 đường H, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Trong vụ án còn có người bị hại là anh Huỳnh Ngọc Q không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 08/12/2016, vợ chồng Nguyễn Thanh D và Nguyễn Thị N cùng một số người làm công hái cà phê tại vườn thuộc thôn Ngọc Sơn 3, xã Phú Sơn, huyện Lâm Hà. Lúc này, gia đình ông Huỳnh Ngọc Da (anh rể của D) và 02 người con trai là Huỳnh Ngọc T và Huỳnh Ngọc Q đang đào hố chôn cọc làm hàng rào sát với vườn nhà D. Do giữa hai gia đình có mâu thuẫn với nhau từ trước, bà N có nói đụng chạm đến ông Da nên giữa ông D và bà N cãi nhau, Q có lao đến đòi đánh bà N nhưng được mọi người can ngăn. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, bà Lê Thị U là vợ ông Da đến thì giữa bà N và bà U cãi nhau và lao vào giằng co, vật nhau ngã xuống đất. Lúc này, D sau khi chở cà phê về nhà, quay lại để chở tiếp thì thấy bà U là chị gái đang cãi nhau với vợ mình là N, D đi đến và nhặt cây cà phê dài khoảng 60cm, đường kính khoảng 05cm, có một đầu nhọn, D cầm cây bằng tay trái đánh 01 cái trúng vào trán bà U, bà U ngã xuống đất, Q thấy vậy có lao đến thì D tiếp tục cầm cây đánh 01 cái trúng đầu Q. Sau đó, D bỏ chạy về phía vườn cà phê nhà mình. Bà U và anh Q được mọi người đưa đi cấp cứu. Hậu quả, bà Lê Thị U bị 01 vết thương ở trán dài 6cm; Huỳnh Ngọc Q bị 01 vết thương đầu vùng đỉnh dài 2cm.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 77/2017/TgT ngày 03/5/2017, Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Huỳnh Ngọc Quý là 02%; Tổn thương do vật tày gây nên.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 80/2017/TgT ngày 03/5/2017, Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Lê Thị U là 08%; Tổn thương do vật cứng có cạnh gây nên.
Vật chứng thu giữ: 01 cây gậy cà phê dài khoảng 60cm, đường kính khoảng 05cm, có một đầu nhọn.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị U yêu cầu bồi thường số tiền 23.386.000đ, anh Huỳnh Ngọc Q yêu cầu bồi thường số tiền 11.398.000đ. Bị cáo chưa bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 110/CT-VKS ngày 20/11/2017, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà truy tố bị cáo Nguyễn Thanh D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại các điểm a, c khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự.
Bản án số 119/2017/HSST ngày 27/12/2017 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng các điểm a, c khoản 1 Điều 104; các điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thanh D 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 42 của Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật Dân sự năm 2015
Buộc bị cáo Nguyễn Thanh D phải bồi thường cho bà Lê Thị U số tiền 19.405.669đ; bồi thường cho anh Huỳnh Ngọc Q số tiền 7.398.322đ.
Bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 05/01/2018 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo.
Ngày 10/01/2018 người bị hại kháng cáo yêu cầu tăng bồi thường, đến ngày 16/4/2018 người bị hại có đơn thay đổi nội dung kháng cáo, rút kháng cáo về phần trách nhiệm dân sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị chấp nhận kháng cáo, giảm cho bị cáo 03 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 08/12/2016, tại thôn Ngọc Sơn 3, xã Phú Sơn, huyện Lâm Hà, giữa ông Huỳnh Ngọc D (là chồng của bà Lê Thị U) và chị Nguyễn Thị N (là vợ của Nguyễn Thanh D) xảy ra cãi vã về việc làm hàng rào giữa vườn cà phê nhà ông Dàng và nhà chị N, sau đó đã xảy ra xô sát. Khi bị cáo D chở cà phê về nhà, quay lại để chở tiếp thì thấy bà U là chị gái đang cãi nhau với vợ mình là N, D đi đến và nhặt cây cà phê đánh 01 cái trúng vào trán bà U, bà U ngã xuống đất, Q thấy vậy có lao đến thì D tiếp tục cầm cây đánh 01 cái trúng đầu Q. Hậu quả, bà Lê Thị U bị 01 vết thương ở trán dài 6cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 08%; Huỳnh Ngọc Q bị 01 vết thương đầu vùng đỉnh dài 2cm, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh D phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm a, c khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo và kháng cáo của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo:
Bị cáo nhận thức được hành vi dùng gậy cà phê là hung khí nguy hiểm đánh vào vùng đầu người khác là nguy hiểm, sẽ gây thương tích hoặc tính mạng người khác nhưng vẫn cố tình thực hiện. Chỉ vì mâu thuẫn việc làm hàng rào giữa hai bên, khi thấy bà U là chị gái đang cãi nhau với vợ mình là N, D đi đến và nhặt cây cà phê đánh vào trán bà U, Q thấy vậy có lao đến thì D tiếp tục cầm cây đánh 01 cái trúng đầu Q. Hành vi của bị cáo thể hiện coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, bị cáo cùng lúc gây thương tích cho nhiều người và đều là những người ruột thịt trong gia đình.
Cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, xử phạt bị cáo 09 tháng tù là phù hợp. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình đã bồi thường xong cho người bị hại, người bị hại thay đổi kháng cáo xin giảm hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, bà D là người được ủy quyền trình bày theo ý kiến của người bị hại chỉ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không xin cho bị cáo được hưởng án treo. Do vậy, chấp nhận một phần kháng cáo giảm hình phạt.
Về án phí: Bị cáo D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh D và người bị hại Lê Thị U, sửa bản án sơ thẩm.
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt Nguyễn Thanh D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam để thi hành án.
Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Thanh D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - TAND huyện Lâm Hà; - VKSND huyện Lâm Hà; - Cơ quan CSĐT Công an huyện Lâm Hà; - Chị cục THSDS huyện Lâm Hà; - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - Phòng KTNV; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Hoàng Thị Minh Hương |