- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Thanh T vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thô…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trương Thanh T và đại diện hợp
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2018/HS-PT Ngày: 21-3-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thanh Thúy
Các Thẩm phán: Ông Bích Văn Nhiên
Bà Trần Thị Ánh Tuyết
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Trọng Kha – Là Thư ký Toà án của Tòa
án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà:
Bà Trần Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên trung cấp
Ngày 21 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận,
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 10/2018/TLPT-
HS ngày 01 tháng 02 năm 2018, đối với bị cáo Trương Thanh T do có kháng cáo
của bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại Ma Văn Pđối với bản án hình sự sơ
thẩm số 43/2017/HSST ngày 21 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện
Hàm Tân.
- Bị cáo có kháng cáo:
Trương Thanh T (B), sinh năm 1974 tại Bến Tre; nơi cư trú: Ấp A, xã B,
huyện C, tỉnh Bến Tre; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lái xe; con ông
Trương Văn Nt và bà Nguyễn Thị R; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn
giáo: Không; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo bị tạm
giữ từ ngày 15/9/2017 đến ngày 21/9/2017, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện
pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt).
- Đại diện hợp pháp của bị hại có kháng cáo: Ông Ma Văn P, sinh năm
1971
Nơi cư trú: Thôn D, xã E, huyện G, tỉnh Bình Thuận (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Thanh T là người đã học Luật giao thông đừơng bộ và được Sở
Giao thông vận tải tỉnh Bến Tre cấp bằng lái xe hạng E số 830075000179 ngày
7/6/2013 có giá trị đến ngày 7/6/2018.
Tối ngày 14/9/2017 Trương Thanh T điều khiển xe ô tô tải biển số 71C-
048.17 của ông Huỳnh Văn T chạy trên Quốc lộ 1A từ Bình Thuận và thành phố Hồ Chí Minh. Cùng đi với T có Huỳnh Thanh P nhưng Pnằm ngủ ở ghế sau trong ca bin. Khoảng 21h 15 phút cùng ngày khi xe do T điều khiển chạy đến km 1765 + 100m thuộc thôn D, xã E, huyện G, Bình Thuận. Đây là đoạn đường thẳng, mặt đường bê tông nhựa phẳng, có vạch kẻ tim đường liền nét phân chia hai chiều xe chạy riêng biệt, phần đường bên phải hướng Phan Thiết – Đồng Nai có vạch kẻ trắng liền nét phân chia làn đường dành cho xe cơ giới với làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ; Lúc này T điều khiển xe với tốc độ khoảng 65 80km/h thì phát hiện phía trước ở làn đường xe cơ giới bên trái ( theo hướng T lưu thông ) có một xe ô tô không rõ biển số đang chạy từ hướng ngược chiều đến và lấn sang làn đường của T để vượt các xe cùng chiều. T đã không giảm tốc độ mà đánh tay lái điều khiển xe ô tô 71C-048-17 chạy vào làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ để tránh, do thiếu chú ý quan sát và bị đèn pha xe ô tô ngược chiều làm choá mắt nên T không phát hiện trên làn đường này có chị Huỳnh Thị L điều khiển xe đạp chở phía sau con gái là Ma Thị Phương T đang lưu thông từ hướng ngược chiều đến, khi xe do T điều khiển cách xe đạp khoảng 1 mét thì T mới phát hiện. Do khoảng cách gần nên T không xử lý kịp đã để phần đầu góc bên phải của xe ô tô 71C-048.17 tông vào xe đạp hất văng chị Lvà bé T vào lề đất và tử vong tại chỗ, còn T khi thấy tai nạn xảy ra lo sợ người nhà nạn nhân đánh nên tiếp tục điều khiển xe chạy vào hướng Đồng Nai, nhằm tìm cơ quan chức năng gần nhất để trình báo nhưng không tìm thấy nên dừng xe lại cách hiện trường khoảng 2,5km và gọi P dậy. T kể lại sự việc mình gây tai nạn và nhờ P đi trình báo với chính quyền địa phương còn T sáng ngày 15/9/2017 đến cơ quan công an huyện G đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Theo bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 220/2017/KNTT ngày
21/9/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Thuận thì nguyên nhân chết của Huỳnh Thị L được kết luận:
- Choáng không hồi phục do đa chấn thương dẫn đến tử vong;
Theo bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 221/2017/KNTT ngày
21/9/2017 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Thuận thì nguyên nhân chết của Ma Thị Phương Thảo được kết luận:
- Choáng không hồi phục do đa chấn thương dẫn đến tử vong;
Phần dân sự: Sau tai nạn chủ xe là ông Huỳnh Văn Tđã thỏa thuận bồi
thường cho gia đình bị hại 250.000.000đ. Đại diện cho bị hại anh Ma Văn P đã làm đơn bãi nại không yêu cầu gì thêm.
*Tại bản án hình sự sơ thẩm số 43/2017/HSST ngày 21 tháng 12 năm
2017 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Trương Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về điều
khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Áp dụng: Điểm đ Khoản 2 điều 202, điểm b, p khoản 1, khoản 2 điều 46
Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009
Xử phạt: Bị cáo Trương Thanh T (Bưu) 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ
ngày thi hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giữ trước từ ngày 15/9/2017 đến
ngày 21/9/2017
Ngoài ra, tòa sơ thẩm còn tuyên các quyết định khác về biện pháp tư
pháp, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo cho những người
tham gia tố tụng biết.
Ngày 03 tháng 01 năm 2018, bị cáo Trương Thanh T kháng cáo xin được
giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 04 tháng 01 năm 2018, đại diện cho bị hại ông Ma Văn P kháng cáo
xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trương Thanh T
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Bị cáo có đầy đủ năng lực trách
nhiệm hình sự nhưng khi bị cáo điều khiển xe ôtô tải đã không tuân thủ Luật
giao thông đường bộ đã đi không đúng phần đường dẫn đến đã tông vào người
đi xe đạp ngược chiều làm 02 người chết, đây là lỗi do vô ý cẩu thả cần phải xử
lý nghiêm. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo cung cấp được đơn xác nhận gia đình
bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo còn cha mẹ già
và con nhỏ, bị cáo đã tích cực bồi thường cho gia đình bị hại và gia đình bị hại
kháng cáo xin cho bị cáo hưởng án treo, trong vụ án này lỗi một phần cũng do bị
hại đi ngược chiều, hiện nay bị cáo đang bị bệnh tim. Đề nghị Hội đồng xét xử
phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2015; xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa bản
án sơ thẩm theo hướng giảm từ 06 tháng đến 12 tháng tù cho bị cáo. Các quyết
định khác của bản án không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị
nên không xem xét.
- Ý kiến của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Trương Thanh T thừa nhận
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” là đúng, không oan. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm có điều kiện hòa nhập xã hội và làm lại cuộc đời.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận
thấy: Bị cáo Trương Thanh T có Giấy phép lái xe hạng E, số 830075000179 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bến Tre cấp ngày 07/6/2013 có giá trị đến ngày 07/6/2018. Tuy nhiên, khi tham gia giao thông, bị cáo không tuân thủ các quy định của Luật giao thông đường bộ, cụ thể: Khoảng 21 giờ 15 phút ngày 14/9/2017, khi T điều khiển xe ô tô tải biển số 71C-048.17 đi đến km 1765 + 100m, lúc này phía trước ngược chiều có nhiều xe ô tô đang lưu thông theo chiều ngược lại và pha đèn làm bị cáo chói mắt, ảnh hưởng đến tầm nhìn. Lẽ ra trong điều kiện đó bị cáo phải giảm tốc độ đến mức không còn nguy hiểm nhưng bị cáo vẫn cho xe chạy với vận tốc từ 60 đến 80 km/h và đi vào làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ. Do thiếu quan sát nên bị cáo để xe do mình điều khiển tông vào chị L đang đi xe đạp theo chiều ngược lại, hậu quả làm cho chị L và cháu T tử vong tại chỗ.
Với hành vi và hậu quả nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội
“Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Tòa án cấp sơ thẩm sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm
tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã xử phạt bị cáo Trương Thanh T (B) 36 tháng tù là mức khởi điểm của khung hình phạt là thỏa đáng, không nặng có tác dụng giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên, xét thấy sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn
năn hối cải, tích cực bồi thường đầy đủ cho gia đình người bị hại với số tiền 250.000.000 đồng, gia đình bị hại cũng có yêu cầu xin giảm hình phạt cho bị cáo; bị hại cũng có phần lỗi là đi không đúng chiều đi của mình. Bị cáo cung cấp đơn có xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, các con bị cáo còn nhỏ, đang đi học, bị cáo còn phải nuôi cha mẹ già, ông Ma Văn P là người đại diện hợp pháp của bị hại cũng có đơn yêu cầu xin được giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 nghĩ nên áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội chuộc lại lỗi lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị
kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2015;
Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trương Thanh T và đại diện hợp
pháp bị hại Ma Văn P, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 43/2017/HSST ngày 21
tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân
Tuyên bố: Bị cáo Trương Thanh T (Bưu) phạm tội “Vi phạm quy định về
điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
Áp dụng: Điểm đ Khoản 2 Điều 202, điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46,
Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009
Xử phạt: Bị cáo Trương Thanh T (B) 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn
tù tính từ ngày thi hành án nhưng khấu trừ thời gian tạm giữ trước từ ngày
15/9/2017 đến ngày 21/9/2017.
Bị cáo Trương Thanh T (B) và đại diện hợp pháp bị hại Ma Văn P không
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị
kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (21/3/2018).
| Nơi nhận: -VKSND tỉnh Bình Thuận; - VKS, CA, TA, THA thành phố Phan Thiết; - Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận; - Những người tham gia tố tụng; - Pv27 – Công an tỉnh Bình Thuận; - Tổ HCTP – TAND tỉnh Bình Thuận; - Lưu: Hồ sơ, Tòa hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Thanh Thúy |