vanban.org

Bản án 21/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban th…

Các bên đương sự; VKSND quận Thanh Khê; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa nguyên đơn bà Hồ Thị Khánh T và bị đơn ông Hồ Ngọc H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban th…
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THANH KHÊ – TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:21/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 23.5.2018
V/v: "Ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Vũ Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Thuận

Bà Lê Thị Nhớ

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo – Chức vụ: Thư ký Tòa án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Bách - Chức vụ: Kiểm sát viên. Ngày 23 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 649/2017/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2017 về việc "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 649/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2018, giữa các đương sự: Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Khánh T - Sinh năm: 1989; nơi cư trú: Số 225/8 đường Đ, phường T, quận C, thành phố Đà Nẵng. Có mặt. Bị đơn: Ông Hồ Ngọc H - Sinh năm: 1988; nơi cư trú: Số 103 đường L, tổ 45, phường V, quận K, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 07 tháng 12 năm 2017, bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Hồ Thị Khánh T trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Khánh T và ông Hồ Ngọc H kết hôn năm 2011, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng, hôn nhân trên sự tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc; trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông H không lo làm ăn, nghiện ngập ma túy và vợ chồng bất đồng nhiều quan điểm trong cuộc sống nên không còn tình cảm với nhau. Mặc dù bà T cố gắng chung sống, khuyên nhủ ông H, mong một ngày nào đó ông H thay đổi để hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng ông H vẫn không vượt qua được cám dỗ của ma túy vẫn đi vào con đường nghiện ngập, hiện nay vợ chồng đã sống ly thân, phần ai nấy sống không còn quan tâm gì đến nhau. Nay bà T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông H. Về quan hệ con chung: Bà T xác định bà và ông H có 01 con chung là Hồ Ngọc Thiên L, sinh ngày: 01/01/2014. Ly hôn, bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng phí tổn nuôi con. Về tài sản chung; về nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình tranh tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Hồ Ngọc H, mặc dù Tòa án đã triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng ông H vẫn vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.

- Về nội dung vụ án: Qua nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, xét thấy yêu cầu xin được ly hôn của bà Hồ Thị Khánh T đối với ông Hồ Ngọc H là có căn cứ, phù hợp với Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Hồ Thị Khánh T.

- Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 58 và Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà Hồ Thị Khánh T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét về thủ tục tố tụng: Ngày 07 tháng 12 năm 2017, bà Hồ Thị Khánh T khởi kiện vụ án Hôn nhân và Gia đình về việc "Ly hôn" đối với ông Hồ Ngọc H, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số 103 đường L, tổ 45, phường T, quận K, thành phố Đà Nẵng, ngày 11/12/2017 Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo trình tự tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án được quy định tại Điều 191, Điều 195 và khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn ông Hồ Ngọc H vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Hồ Ngọc H. [2] Xét về nội dung: Nguyên đơn bà Hồ Thị Khánh T cho rằng trong quá trình chung sống bà và ông Hồ Ngọc H xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông H nghiện ngập ma túy, không có chí hướng làm ăn và thiếu quan tâm đến gia đình dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể chung sống được với nhau và hiện tại vợ chồng đã sống ly thân nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông H. Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình tranh tụng tại phiên tòa và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tại phiên tòa thể hiện: Hôn nhân giữa bà Hồ Thị Khánh T và ông Hồ Ngọc H là hợp pháp, quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn như bà T trình bày là có căn cứ; qua xác minh tại địa phương thể hiện vợ chồng bà T và ông H đã sống ly thân với nhau gần 01 năm nay, phần ai đấy sống không còn quan tâm gì đến nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa ông H đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu của bà T, điều đó chứng tỏ ông H cũng không tha thiết hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với bà T. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định mâu thuẫn giữa vợ chồng bà T và ông H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và đời sống chung không thể kéo dài, xét yêu cầu ly hôn của bà T là phù hợp với Điều 50 và Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận. [3] Về quan hệ con chung: Bà T xác định bà và ông H có 01 con chung là Hồ Ngọc Thiên L - sinh ngày: 01/01/2014. Ly hôn, bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng phí tổn nuôi con. Xét yêu cầu được nuôi con của bà T, Hội đồng xét xử thấy: Việc nuôi dạy con cái là quyền và nghĩa vụ của cha mẹ, ai cũng có quyền này, trong quá trình tố tụng và tại phiên toà hôm nay, ông H đều vắng mặt không có lý do, điều đó thể hiện nguyện vọng được nuôi con của ông H là không có và thực tế hiện nay cháu Hồ Ngọc Thiên L đang sinh sống với bà T; xét yêu cầu được nuôi con của bà T là có căn cứ phù hợp với Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình nên, Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với yêu cầu cấp dưỡng phí tổn nuôi con, bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng, xét yêu cầu trên là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về tài sản chung; nợ chung: Do bà T không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết. [4] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, bà Hồ Thị Khánh T phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ quốc hội. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ quốc hội. Tuyên xử: 1.Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Khánh T được ly hôn với ông Hồ Ngọc H. 2. Về quan hệ con chung: Bà Hồ Thị Khánh T được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Hồ Ngọc Thiên L - sinh ngày: 01/10/2014 cho đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi). Ông Hồ Ngọc H không cấp dưỡng phí tổn nuôi con. Khi ly hôn cha, mẹ đều có các quyền, nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. 3. Án phí: Buộc bà Hồ Thị Khánh T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 007883 ngày 11.12.2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. 4. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho nguyên đơn biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết kết quả xét xử tại nơi cư trú./. Nơi nhận:

Cỡ chữ