vanban.org

Bản án 21/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lò Thị D.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị D được ly hôn với anh Lò Văn C. Về con chung: Giao cho chị Lò Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu Lò Long Thành U; sinh ngày 06/7/2010 cho đến khi cháu Thành U đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; anh Lò Văn C chưa cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "BA - Lò Thị D, Lò Văn C 21"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lò Thị D.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUẦN GIÁO
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 19/9/2018.
V/v tranh chấp: Ly hôn, giao nuôi
con chung.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bạc Thị Hồng và ông Phạm Văn Tuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Lượng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Mai, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2018, tại trụ Toà án nhân dân huyện Tuần Giáo xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 78/2018/TLST-HN&GĐ ngày 28 tháng 5 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2018/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lò Thị D, năm sinh: 1992.

Địa chỉ: Bản N, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

Bị đơn: Anh Lò Văn C, năm sinh: 1993.

Địa chỉ: Bản P, xã N, huyện T, tỉnh Điện Biên. Hiện đang cải tạo tại K1, Đội 40, phân trại 1, Trại giam T - Nhà máy gạch Đ, xã Đ, huyện C, thành phố H (Bị đơn vắng mặt, có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 11 tháng 4 năm 2018, bản tự khai và phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Lò Thị D trình bày:

Về hôn nhân: Chị Lò Thị D và anh Lò Văn C đăng ký kết hôn ngày 27/02/2013; tại UBND xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên. Hai vợ chồng kết hôn tự nguyện. Trong quá trình chung sống do anh C nghiện ma túy, không tu trí làm ăn, không chăm lo cho gia đình và quan tâm đến vợ con. Hiện nay anh C đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T. Kể từ khi anh Chung đi cải tạo tại trại giam chị D không thăm gặp vì cho rằng tình cảm vợ chồng không còn. Đến nay chị không thể kéo dài quan hệ hôn nhân với anh Lò Văn C, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Lò Văn C.

Về con chung: Chị Lò Thị D và anh Lò Văn C có 01 con chung: Họ và tên: Lò Long Thành U, sinh ngày 06/7/2010. Hiện nay cháu Thành U đang ở cùng chị Lò Thị D. Khi ly hôn chị Lò Thị D nhận trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu Lò Long Thành U đến khi cháu Thành U đủ 18 tuổi và chưa yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung vì hiện tại anh C đang chấp hành hình phạt tù không có khả năng cấp dưỡng. Yêu cầu Tòa án giải quyết việc giao nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung cho chị D.

Về tài sản chung: Kể từ khi kết hôn không tạo lập được tài sản chung, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết, Tòa án cũng đã tiến hành ủy thác thu thập chứng cứ, anh Lò Văn C trình bày: Anh Lò Văn C và chị Lò Thị D có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Tuần Giáo. Từ khi kết hôn hai anh chị sống hạnh phúc, sau đó do anh phải đi chấp hành án nên chị D có yêu cầu xin ly hôn, anh C cũng đồng ý ly hôn. Còn về con chung, anh C đồng ý giao cháu Lò Long Thành U cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, do anh đang chấp hành án nên chưa có điều kiện cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản và nợ chung không có, không đề nghị Tòa án giải quyết. Do hiện tại đang chấp hành hình phạt tù nên anh C xin được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết của Tòa án.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng: Không có kiến nghị về vi phạm tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm. Căn cứ vào Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật HNGĐ năm 2014 về hướng giải quyết vụ án: Về hôn nhân: Xét thấy giữa chị Lò Thị D và anh Lò Văn C không còn tình cảm yêu thương, quan tâm chăm sóc, hai anh chị đã sống ly thân từ lâu, xét thấy hạnh phúc hôn nhân không đạt được; nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lò Thị D. Về con chung: Đề nghị giao cháu Lò Long Thành U; sinh ngày 06/7/2010 cho chị Lò Thị D trực tiếp nuôi dưỡng; vì hiện tại anh C đang chấp hành án nên không có đủ điều kiện nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có không đề nghị giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Đề nghị căn cứ vào quy định tại Điều 147 BLTTDS và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án xem xét miễn án phí ly hôn cho chị Lò Thị D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Xét đơn khởi kiện ly hôn, giao nuôi con chung của chị Lò Thị D và anh Lò Văn C thì được xác định là vụ án ly hôn và tranh chấp nuôi con chung theo quy định tại Điều 51, Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Thời điểm chị Lò Thị D nộp đơn khởi kiện ly hôn, anh Lò Văn C có nơi đăng ký hộ khẩu tại bản P, xã N, huyện T, tỉnh Điện Biên nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; quá trình giải quyết vụ án đương sự đã nhận được đầy đủ thông báo thụ lý vụ án. Tòa án cũng đã thực hiện ủy thác thu thập chứng cứ theo đúng quy định của Pháp luật. Anh Lò Văn C có ý kiến xin được vắng mặt tại phiên tòa, xét thấy sự vắng mặt có lý do không gây cản trở cho việc xét xử mà vẫn đảm bảo được đầy đủ quyền lợi cho anh C. Do đó HĐXX quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Về Hôn nhân: Chị Lò Thị D và anh Lò Văn C kết hôn với nhau ngày 27/02/2013, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, tỉnh Điện Biên. Anh chị kết hôn tự nguyện, không ai cản trở ép buộc. Vậy có thể xác định cuộc hôn nhân của chị Lò Thị D và anh Lò Văn C là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân & gia đình năm 2014. Cuộc sống hôn nhân của anh chị hạnh phúc được những năm đầu sau đó nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh C không làm chủ được bản thân nên đã có hành vi vi phạm pháp luật và đang phải chấp hành hình phạt tù. Kể từ ngày anh C đi chấp hành án; chị D cũng không còn sự quan tâm, chăm sóc, hỏi thăm đối với anh C. Trong quá trình Tòa án giải quyết đã tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân thì thấy, hai anh chị đã không sống chung từ lâu. Bởi vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng; thực tế hai anh chị đến nay nên tình cảm vợ chồng cũng đã không còn, giữa vợ chồng thiếu sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, cuộc sống hôn nhân giữa hai anh chị không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy cần căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân & gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lò Thị D.

Về con chung: Xét yêu cầu giao nuôi con chung của chị Lò Thị D và anh Lò Văn C thì thấy: Chị D nhận trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu Lò Long thành U; sinh ngày 06/7/2010 cho đến khi cháu Thành U đủ 18 tuổi, chưa yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung và có sự nhất trí giao cháu Thành U cho chị D trực tiếp nuôi con của anh Lò Văn C; đồng thời, cháu Thành U cũng có nguyện vọng được sống chung với chị D. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy, với điều kiện hoàn cảnh của chị Lò Thị D và anh Lò Văn C thì việc đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thành U và chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn phù hợp. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu nhận nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con chung của chị Lò Thị D để đảm bảo cuộc sống sinh hoạt cũng như học tập của cháu Lò Long Thành U.

Về tài sản chung: Không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Không có nợ chung, không đề nghị giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Hội đồng xét xử, xét thấy chị Lò Thị D đủ điều kiện được xét miễn án phí ly hôn.

Tại phiên tòa, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đưa ra đề nghị hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật và nội dung vụ án, vì vậy cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân & gia đình năm 2014.

- Điều 147, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Lò Thị D.

2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Thị D được ly hôn với anh Lò Văn C.

3. Về con chung: Giao cho chị Lò Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu Lò Long Thành U; sinh ngày 06/7/2010 cho đến khi cháu Thành U đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; anh Lò Văn C chưa cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Lò Văn C có quyền thăm nom con, không ai được cản trở anh C thực hiện quyền này.

4. Về án phí: Chị Lò Thị D được miễn án phí ly hôn.

Chị Lò Thị D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 19/9/2018); anh Lò Văn C có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA Nơi nhận

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- Phòng KTNV và THA;

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

- VKSND huyện T.Giáo;

- Chi cục THADS huyện T.Giáo;

- Đương sự;

- UBND xã M;

- Lưu.

Lƣơng Thị Nga

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA

Cỡ chữ