- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án lý hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn"
- Tòa quyết gì? Sửa bản án sơ thẩm số 12/2018/HNGĐ-ST ngày 02/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hải Dương.
- Căn cứ chính? Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 300 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2018/HNGĐ-PT Ngày: 16/7/2018 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Đăng Huy
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Huy Hiểu
Ông Lại Anh Vân
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Phạm Thị Thùy – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2018/TLPT-HNGĐ ngày 12/6/2018 về Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn.
Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 12/2018/HNGĐ-ST ngày 02/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 27/2018/QĐ-PT ngày 26/6/2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị N, sinh năm 1974.
Địa chỉ cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện M, tỉnh Hải Dương.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Phạm Văn Đ – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước, thuộc Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Bá P, sinh năm 1976.
Địa chỉ cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện M, tỉnh Hải Dương.
3. Người kháng cáo: Anh Nguyễn Bá P – bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm số 12/2018/HNGĐ-ST ngày 02/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hải Dương thì vụ án có nội dung tóm tắt như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh P tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M vào năm 2000. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 12 năm thì phát sinh mâu thuẫn nên tháng 01/2017 chị N đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh P. Sau đó gia đình hai bên động viên nên chị N đã rút đơn nhưng mâu thuẫn vợ chồng không được hóa giải mà ngày càng trầm trọng, dù sống chung một nhà nhưng không ai quan tâm đến ai. Chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có đơn yêu cầu xin ly hôn anh P và anh P đồng ý ly hôn chị N.
- Về quan hệ con chung: Chị N và anh P thống nhất xác định anh chị có 03 con chung là: Nguyễn Văn T sinh ngày 21/02/2001; Nguyễn Tuấn M sinh ngày 16/8/2002; Nguyễn Sinh Q sinh ngày 28/10/2012. Khi ly hôn chị N có nguyện vọng nuôi cháu M và cháu Q, yêu cầu anh P cấp dưỡng tiền nuôi cháu Q từ tháng 5/2018 đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh P có quan điểm rằng cháu T và cháu M do ai nuôi dưỡng là tùy nguyện vọng của các cháu, anh yêu cầu được nuôi cháu Q, nếu cả 3 cháu ở với anh thì anh cũng đồng ý và không yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung: Chị N và anh P cùng cùng xác định không vay nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Chị N yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng gồm nhà mái bằng, diện tích thuê thầu khoán của UBND xã Đ và một số đồ dùng sinh hoạt nhưng đến ngày 29/01/2018 và tại phiên tòa sơ thẩm, chị N rút yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng, anh P cũng nhất trí vợ chồng tự thỏa thuận về tài sản chung, nếu sau này có tranh chấp thì sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
Tại bản án sơ thẩm số 12/2018/HNGĐ-ST ngày 02/5/2018, TAND huyện M, tỉnh Hải Dƣơng quyết định:
Căn cứ Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật HNGĐ; điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244, khoản 4 Điều 147 BLTTDS; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị N và anh P.
- Về quan hệ con chung: Giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu M và cháu Q; giao cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng cháu T. Buộc anh P có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Q cùng chị N 650.000đ/tháng từ 05/2018 đến khi cháu Q đủ 18 tuổi. Anh P và chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
- Về quan hệ tài sản chung: Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của chị N về việc chia tài sản chung là nhà mái bằng; diện tích đất thuê thầu khoán của UBND xã Đ và một số đồ dùng sinh hoạt gia đình, nếu có tranh chấp thì có quyền khởi kiện lại về chia tài sản chung sau khi ly hôn.
Ngoài ra bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 09/5/2018, anh P kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp Q thẩm giao cho anh trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Q đến khi cháu trưởng thành, không yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi con.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Anh P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị được nuôi cháu Q, không yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi con.
- Chị N đồng ý với yêu cầu kháng cáo của anh P về việc giao cháu Q cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu sau này anh P không chăm sóc tốt cho cháu Q thì chị sẽ yêu cầu thay đổi người nuôi con.
- Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm:
+ Về việc tuân thủ pháp luật: Từ khi thụ lý, trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự tham gia phiên tòa tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng.
+ Về hướng giải quyết vụ án: Chị N chấp nhận kháng cáo của anh P là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và không trái phép luật nên đề nghị HĐXX công nhận sự thỏa thuận của chị N và anh P, sửa bản án sơ thẩm, giao cháu Q cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Kháng cáo của anh P trong thời hạn quy định tại Điều 273 BLTTDS nên là kháng cáo hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung kháng cáo:
Tại bản án sơ thẩm, TAND huyện M quyết định giao cháu T cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu M và cháu Q cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh P kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu giao cháu Q cho anh nuôi dưỡng với lý do cháu M bị bệnh nên giao cả 2 cháu cho chị N nuôi dưỡng là không phù hợp.
Chị N xác nhận cháu M bị bệnh như anh P trình bày là đúng, việc chăm sóc cháu yêu cầu nhiều thời gian và công sức hơn bình thường. Mặt khác cháu Q và anh P rất hợp nhau nên nếu anh P cương quyết muốn trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q thì chị đồng ý. Sau này nếu anh P không chăm sóc tốt cho cháu Q thì chị sẽ yêu cầu thay đổi người nuôi con.
Xét thấy anh P và chị N thỏa thuận với nhau về việc giải quyết một phần bản án nên cần chấp nhận và sửa bản án sơ thẩm theo hướng giao cháu Q cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng, anh P không phải cấp dưỡng tiền nuôi cháu Q cho chị N. Anh P tự nguyện không yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi con nên cần chấp nhận.
Về án phí:
- Án phí Q thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên anh P không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình Q thẩm.
- Án phí sơ thẩm: Do anh P không phải cấp dưỡng tiền nuôi cháu Q cho chị N nên không phải chịu án phí cấp dưỡng.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 148 BLTTDS:
1. Sửa bản án sơ thẩm số 12/2018/HNGĐ-ST ngày 02/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Hải Dương.
- Công nhận sự thỏa thuận của anh Nguyễn Bá P và chị Trần Thị N về việc giao con chung là Nguyễn Sinh Q, sinh ngày 28/10/2012 cho anh P trực tiếp nuôi dưỡng. Anh P không phải cấp dưỡng 650.000đ tiền nuôi cháu Q cho chị N.
Chấp nhận sự tự nguyện của anh P không yêu cầu chị N cấp dưỡng tiền nuôi cháu Q.
2. Về án phí:
- Anh Nguyễn Bá P không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình Q thẩm.
- Anh Nguyễn Bá P không phải chịu án phí cấp dưỡng.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 16/7/2018.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dương; - TAND huyện M; - THADS huyện M; - UBND xã Đ; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, lưu Tòa. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Q THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Bùi Đăng Huy |