- Tranh chấp gì? Tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "nguyên đơn Lê Thị Cẩm G + bị đơn Nguyễn Hoàng C"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị Cẩm G.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2018/HNGĐ-PT Ngày: 29/8/2018 V/v Xin ly hôn, nuôi con và chia tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Lê H ng Nư c
Các Thẩm phán:
Ông Trương Phư c Tự
Ông Lê Thành Tôn
- Th ký phiên tòa: ng Nguyễn Văn Trãi Thư k Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp.
- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân t nh Đ ng Tháp: Ông Nguyễn Tấn Tài, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ l số 22/2018/TLPT-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2018 về xin ly hôn nuôi con và chia tài sản.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 43/2018/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện C bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 16/2018/QĐ–PT ngày 31/7/2018, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Cẩm G sinh năm 1998;
Địa ch : ấp A, xã G huyện C t nh Đ ng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Võ Thị G1 Văn phòng luật sư G1 thuộc Đoàn luật sư t nh Đ ng Tháp.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng C, sinh năm 1990;
Địa ch : ấp B, xã G huyện C t nh Đ ng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Dương Hữu Thanh P Văn phòng luật sư P thuộc Đoàn luật sư t nh Đ ng Tháp.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị N sinh năm 1957;
Người đại diện theo ủy quyền của bà N: ng Nguyễn Văn N1 sinh năm 1954 cùng địa ch : ấp B, xã G huyện C t nh Đ ng Tháp.
Người kháng cáo: Chị Lê Thị Cẩm G là nguyên đơn trong vụ án.
(Có m t: Chị Cẩm G, anh C, ông N1, luật sư Võ Thị G1 luật sư Dương Hữu Thanh P).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm G trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Lê Thị Cẩm G và anh Nguyễn Hoàng C chung sống từ năm 2015, không có đăng k kết hôn.
Thời gian đầu vợ ch ng chung sống hạnh phúc nhưng về sau thì vợ ch ng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đ ng quan điểm sống vợ ch ng thường xuyên cãi nhau không còn hòa hợp chị G cho rằng mẹ ch ng chị nói chị ngoại tình nên ảnh hưởng đến tình cảm vợ ch ng. Chị đã cố hàn gắn tình cảm nhưng không thành chị G mang con về nhà cha mẹ ruột sinh sống vợ ch ng ly thân từ tháng 01 năm 2018 đến nay. Nay chị G nhận thấy không còn tình cảm v i anh C, vợ ch ng không thể hàn gắn được nên chị G yêu cầu được ly hôn v i anh Nguyễn Hoàng C.
- Về con chung: Vợ ch ng có 01 con chung tên Nguyễn Đăng K, sinh ngày 06/4/2016 hiện đang sống v i chị G. Khi ly hôn chị G yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: vợ ch ng có 10 ch vàng 24kr (9 8 tuổi) 10 ch vàng 18kr và số tiền 27.000.000 đ ng, số vàng 24 kr, 9 5 ch vàng 18 kr chị quản l anh C quản l 0 5 ch vàng 18 kr (nhẫn). Trong quá trình chung sống ở gia đình anh C số vàng 18kr bị hư hỏng chị phải đổi m i bị lỗ mất 03 ch còn lại 5 5 ch 18 kr. Số vàng 5 5 ch chị sử dụng vào việc nuôi con khi về bên nhà mẹ ruột ch còn lại 03 ch . Đối v i số vàng 10 ch 24 kr chị giao cho bà N giữ. Số tiền 27.000.000 đ ng chị đưa cho bà N vay 15.000.000 đ ng còn lại 12.000.000 đ ng sử dụng vào việc nuôi con hiện nay không còn. Khi ly hôn chị G có các yêu cầu sau:
+ Yêu cầu một mình bà N trả 7.500.000 đ ng (15.000.000 đ ng/2) tiền vay không yêu cầu tính lãi.
+ Yêu cầu bà N trả lại 5 ch vàng 24 kr (10 ch 24 kr/2) mà bà N giữ trong quá trình chung sống.
Đối v i số vàng 03 ch 18kr chị đ ng chia cho anh C 1 5 ch .
- Về nợ chung: Vợ ch ng không thiếu nợ ai cũng không ai nợ.
Bị đơn anh Nguyễn Hoàng C trình bày:
- Về hôn nhân: anh C thừa nhận lời trình bày của chị G về thời gian vợ ch ng chung sống không có đăng k kết hôn cũng như mâu thuẫn vợ ch ng là đúng. Nay anh C nhận thấy không còn tình cảm v i chị G nên đ ng ly hôn v i chị G.
- Về con chung: Vợ ch ng có 01 con chung tên Nguyễn Đăng K, sinh ngày 06/4/2016 hiện đang sống v i chị G. Khi ly hôn anh C đ ng để chị G được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung anh C không cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của chị G.
- Về tài sản chung: vợ ch ng có 10 ch vàng 24k (9 8 tuổi) 10 ch vàng 18k là vàng cư i. Trong thời gian chung sống mua thêm 12 ch vàng 18kr và tạo được 27.000.000 đ ng (hai mươi bảy triệu đ ng) bao g m tiền bán lúa được 17 triệu đ ng mẹ vợ trả 10 triệu đ ng. Tổng cộng vợ ch ng có 10 ch vàng 24k 22 ch vàng 18k và số tiền 27.000.000 đ ng (hai mươi bảy triệu đ ng) hiện chị G quản l . Không có việc giao bà N giữ 10 ch vàng 24kr không có việc cho bà N vay 15.000.000 đ ng như chị G trình bày. Khi ly hôn anh C yêu cầu yêu cầu sau:
+ Số tiền 27.000.000 đ ng anh thống nhất chi tiêu 10.000.000 đ ng còn lại 17.000.000 đ ng nên chị G phải chia lại cho anh 8.500.000đ ng;
+ Số vàng 10 ch 18 kr ( anh giử 01 chiếc nhẫn 0 5 ch ) chị G giữ 9 5 ch anh thống nhất lỗ 01 ch khi đổi vàng còn lại 8 5 ch anh yêu cầu chị G chia cho anh 04 ch .
+ Số vàng 10 ch 24 kr chị G giữ, anh yêu cầu chị G chia 05 ch .
Đối v i số vàng 12 ch 18 kr mua sắm trong thời kỳ sống chung chị G không thừa nhận nên coi như không có số vàng này nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ ch ng không thiếu nợ ai cũng không ai nợ.
Tại bản án hôn nhân gia đình số 43/2018/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 5 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện C đã xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn nuôi con và cấp dưỡng của chị Lê Thị Cẩm G;
- Không chấp nhận yêu cầu trả tiền vay 7.500.000 đ ng và đòi lại 05 ch vàng 24kr của chị Lê Thị Cẩm G đối v i bà Nguyễn Thị N;
- Chấp nhận yêu cầu chia tài sản của anh Nguyễn Hoàng C;
Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ ch ng giữa chị Lê Thị Cẩm G v i anh Nguyễn Hoàng C.
Về con chung: Chị Lê Thị Cẩm G được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Đăng K sinh ngày 06/4/2016. Buộc anh Nguyễn Hoàng C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng bằng ½ mức lương cơ sở tại thời điểm cấp dưỡng cho đến khi cháu Đăng K đủ 18 tuôi. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 4 năm 2018.
Anh Nguyễn Hoàng C có quyền thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
Về tài sản:
- Chị Lê Thị Cẩm G có nghĩa vụ chia lại cho anh Nguyễn Hoàng C 05 (năm) ch vàng 24 kr 04 (Bốn ch ) ch vàng 18kr và 8.500.000 đ ng (tám triệu năm trăm nghìn).
- Chị Lê Thị Cẩm G được sở hữu số tài sản g m: 05 (năm) ch vàng 24 kr 4 5 (Bốn ch năm phân) ch vàng 18kr và 8.500.000 đ ng (tám triệu năm trăm nghìn).
Ngoài ra bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chậm thi hành án án phí, hư ng dẫn thi hành bản án và thời hạn kháng cáo.
- Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 30/5/2018, chị Lê Thị Cẩm G là nguyên đơn, kháng cáo một phần bản án dân sự sơ thẩm số 43/2018/DS-ST ngày 18/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện C yêu cầu được nhận ½ tài sản chung của vợ ch ng.
- Tại phiên tòa cấp phúc thẩm:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị G, trình bày: Đối v i 10 ch vàng 24kr do anh C yêu cầu chị G đưa cho bà N giữ; Tòa án cấp sơ thẩm buộc chị G giao lại cho anh C 4 ch 18kr không đúng; số tiền 27.000.000 đ ng khi chị G về sống v i cha mẹ ruột không có mang theo là do chị G cho bà N vay 15.000.000 đ ng, còn lại 12.000.000 đ ng sử dụng hết trư c khi về cha mẹ ruột sinh sống, khi đi ch có mang theo số vàng 18kr nên đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị G, sửa bản án dân sự sơ thẩm.
Chị Lê Thị Cẩm G trình bày: Thống nhất lời trình bày của luật sư bảo vệ cho chị.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh C luật sư Dương Hữu Thanh P trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định rất rõ về tài sản chung của chị G và anh C g m có 10 ch vàng 24kr, 10 ch vàng 18kr và 27.000.000 đ ng, chị G thừa nhận đều do chị giữ, anh C ch giữ 0,5 ch vàng 18kr (nhẩn cư i); chị G không chứng minh được đã giao cho bà N giữ 10 ch vàng 24kr, cho bà N vay 15.000.000 đ ng, việc sử dụng 12.000.000 đ ng, cũng như việc đổi vàng 18kr bị hao hụt 03 ch là không hợp lý nên đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị G, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Anh Nguyễn Hoàng C trình bày: Thống nhất lời trình bày của luật sư bảo vệ cho anh và yêu cầu được đến thăm con.
ng Nguyễn Văn N1 trình bày: Thống nhất v i bản án dân sự sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ ng Tháp phát biểu:
+ Về tố tụng: Từ khi thụ l vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ l giải quyết vụ án đúng các quy định pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Hội đ ng xét xử phúc thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Các đương sự chấp hành tốt nội quy phiên tòa.
+ Về nội dung: Chị G kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm không chia cho chị phân nửa tài sản chung của chị v i anh C là hoàn toàn không có cơ sở. Bởi lẽ, toàn bộ số vàng và tiền là do chị G trực tiếp giữ, anh C ch giữ 0,5 ch vàng 18kr. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định và quyết định phân chia mỗi người được hưởng ½ tài sản phù hợp v i quy định của pháp luật. Đối v i những lời khai nại của chị G về 10 ch vàng 24kr đã đưa cho bà N giữ, 15.000.000 đ ng cho bà N vay, còn lại 12.000.000 đ ng sử dung hết, đổi vàng 18kr bị lỗ 03 ch , bán 3,5 ch để nuôi con nhưng chị G không có chứng cứ để chứng minh, bà N không thừa nhận, anh C ch chấp nhận một phần, đối v i tiền là 10.000.000 đ ng và lỗ 01 ch vàng18kr nên đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị G, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong h sơ được thẩm tra tại phiên tòa căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa đề nghị của luật sư và lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị Cẩm G về việc yêu cầu được nhận ½ tài sản chung của vợ ch ng Hội đ ng xét xử xét thấy:
- Chị G và anh C đều xác định tài sản chung của anh chị g m: 10 ch vàng 24kr 10 ch vàng 18kr (là vàng cư i) và số tiền 27.000.000 đ ng tiền bán lúa sau khi cư i thì số vàng và tiền này do chị G giữ, anh C ch giữ 0,5 ch vàng 18kr (nhẫn cư i). Do đó đây là tình tiết không phải chứng minh quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Đối v i 10 ch vàng 24kr chị G trình bày giao cho mẹ ch ng là bà N giữ nhưng chị không có chứng cứ chứng minh bà N giữ giùm, bà N cũng không thừa nhận. Do đó lời trình bày này là không có căn cứ chấp nhận.
- Đối v i 10 ch vàng 18kr trong đó chị và anh C mỗi người giữ 0 5 ch (nhẫn cư i) còn lại 9 ch bị hư chị đỗi lại lỗ 3 ch , còn lại 6 ch và 0 5 ch (nhẫn) chị đã bán để nuôi con khi chị về sống v i cha mẹ ruột hết 3,5 ch nên chị đ ng ý chị cho anh C 1.5 ch . Anh C cũng không thống nhất anh ch đ ng đỗi vàng bị lỗ 1 ch còn lại 9 ch anh và chị mỗi người giữ 0 5 ch (nhẫn cư i), còn 8 ch chị đang giữ nên chị phải chia lại cho anh C 4 ch vàng 18kr là phù hợp.
- Đối v i số tiền 27.000.000 đ ng chị G khai cho bà N vay 15.000.000 đ ng còn lại 12.000.000 đ ng chị đã sử dụng để nuôi con. Tuy nhiên, chị không có chứng cứ chứng minh cho bà N vay 15.000.000 đ ng bà N cũng không thừa nhận. Anh C ch đ ng tiền nuôi con là 10.000.000 đ ng còn lại 17.000.000 đ ng chị đang giữ nên chị phải chia lại cho anh C 8.500.000 đ ng là phù hợp.
Do chị G không có chứng cứ chứng minh có cho bà N vay tiền và giữ vàng giùm. Do đó số vàng và tiền này do chị giữ nên chị có nghĩa vụ chia lại cho anh C theo quy định pháp luật.
Từ những phân tích trên Hội đ ng xét xử phúc thẩm xét thấy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C đã xử có căn cứ nên giữ nguyên bản án sơ thẩm.
luật sư Võ Thị G1 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị G đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị G, sửa bản án dân sự sơ thẩm về phần tài sản là chưa phù hợp nên không chấp nhận.
luật sư Dương Hữu Thanh P bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh C đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị G, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm về phần tài sản là phù hợp nên chấp nhận.
Đại diện viện kiểm sát đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị Cẩm G, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp nên chấp nhận.
Do yêu cầu kháng cáo của chị G không được chấp nhận nên chị G phải chịu tiền án phí phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 và khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm thu nộp quản l và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tu n X :
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị Cẩm G.
2. Giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 43/2018/DS-ST ngày 18/5/2018 của Tòa án nhân dân huyện C t nh Đ ng Tháp.
3. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn nuôi con và cấp dưỡng của chị Lê Thị Cẩm G;
- Không chấp nhận yêu cầu trả tiền vay 7.500.000 đ ng và đòi lại 05 ch vàng 24kr của chị Lê Thị Cẩm G đối v i bà Nguyễn Thị N;
- Chấp nhận yêu cầu chia tài sản của anh Nguyễn Hoàng C;
Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ ch ng giữa chị Lê Thị Cẩm G v i anh Nguyễn Hoàng C.
Về con chung: Chị Lê Thị Cẩm G được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Đăng K sinh ngày 06/4/2016. Buộc anh Nguyễn Hoàng C có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng bằng ½ mức lương cơ sở tại thời điểm cấp dưỡng cho đến khi cháu Nguyễn Đăng K đủ 18 tuôi. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 4 năm 2018.
Anh Nguyễn Hoàng C có quyền thăm nom chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản.
Về tài sản:
- Chị Lê Thị Cẩm G có nghĩa vụ chia lại cho anh Nguyễn Hoàng C 05 (năm) ch vàng 24 kr (9 8 tuổi) 04 (Bốn ch ) ch vàng 18kr và 8.500.000 đ ng (tám triệu năm trăm nghìn đ ng).
- Chị Lê Thị Cẩm G được sở hữu số tài sản g m: 05 (năm) ch vàng 24 kr (9 8 tuổi), 4 5 (Bốn ch năm phân) ch vàng 18kr và 8.500.000 đ ng (tám triệu năm trăm nghìn đ ng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi bằng 50 mức lãi suất theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng v i thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành án xong.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm
+ Chị Lê Thị Cẩm G phải chịu án phí sơ thẩm (hôn nhân) là 300.000 đ ng, án phí đòi tài sản án phí vay tài sản là 1.125.000 đ ng án phí chia tài sản chung 1.625.000 đ ng; tổng cộng 3.050.000 đ ng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.050.000 đ ng theo biên lai số 04277 biên lai số 04278 ngày 13 tháng 3 năm 2018. Sau khi khấu trừ chị Cẩm G còn phải nộp tiếp 2.000.000 đ ng.
+ Anh Nguyễn Hoàng C phải nộp án phí phân chia tài sản 1.625.000 đ ng và 300.000 đ ng tiền án phí cấp dưỡng; tổng cộng 1.925.000 đ ng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.150.000 đ ng theo biên lai số 04488 ngày 04 tháng 4 năm 2018. Sau khi khấu trừ anh Hoàng C còn phải nộp tiếp 775.000 đ ng.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Lê Thị Cẩm G phải chịu 300.000 đ ng tiền án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ 300.000 đ ng tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp theo biên lai số 0000215 ngày 30/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C t nh Đ ng Tháp.
6. Trong trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6 7 7a 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV và THA; - VKSND T nh; - TAND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; - Đương sự; - Lưu: VT HSVA, TDS (Tr). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký L H n Nước |