vanban.org

Bản án 21/2018/HNĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Thanh S"
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
T A ÁN NH N D N
HU N PH G ÁO

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T NH B NH D N
Bản án số: 21/2018/HN Đ-ST
Ngày 13/4/2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

N C C NG H A X H CHỦ NGH A V T NAM

T A ÁN NH N D N HU N PH G ÁO, T NH B NH D NG

- Thành ph n H i đ ng xét x s th m g m có:

Th ph n - Ch a ph n a: Bà Nguyễn Thị Kim Khoa.

C c H h nh n dân:

Bà Phan Thị Ngọc Mai;

Bà Lê Thị Thùy Vân.

- Th ký phiên tòa: Ông Hồ Phúc Vĩnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú iáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình D ng tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Đình Phượng - Kiểm sát viên.

Vào ngày 13 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú iáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 349/2017/TLST-HN Đ ngày 12 tháng 10 năm 2017 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2018/QĐXXST - HN Đ ngày 02 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguy n đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số nhà X, tổ Y, ấp Z, xã T, huyện Phú iáo, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin xét xử vắng mặt

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1978; Địa chỉ: Số nhà X, tổ Y, ấp Z, xã T, huyện Phú iáo, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

N DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản lấy lời khai, nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Thanh S sống chung với nhau từ năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, huyện Phú iáo, tỉnh Bình Dương vào ngày 19/4/2001. Cuộc sống vợ chồng chỉ hạnh phúc trong thời gian đầu, khi đó hai vợ chồng đều cố gắng làm ăn lo cho cuộc sống chung, đến khoảng năm 2006 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ônh S đi làm xa nhà, không còn quan tâm đến kinh tế gia đình, không chăm sóc vợ con, không chí thú làm ăn. Hiện tại bà và ônh S không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà H kiên quyết xin ly hôn với ông Nguyễn Thanh S.

- Về con chung: Trong quá trình chung sống bà và ônh S có hai con chung tên Nguyễn Thanh T, sinh ngày 10/3/2001 và Nguyễn Thanh K, sinh ngày 28/11/2004. Hiện tại các con đang sống với bà H. Bà xin được nuôi hai con chung Nguyễn Thanh T và Nguyễn Thanh K; không yêu cầu ônh S phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không tranh chấp tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh S đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ônh S vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của bà H.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú iáo tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và việc chấp hành pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị H đối với ông Nguyễn Thanh S; về con chung: iao hai con chung Nguyễn Thanh T và Nguyễn Thanh K cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ônh S phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án xin ly hôn mà bị đơn cư trú tại tổ Y, ấpZ, xã T, huyện Phú iáo, tỉnh Bình Dương và nguyên đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú iáo giải quyết. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú iáo, tỉnh Bình Dương.

[2] Về sự vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn: Nguyên đơn bà Phạm Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Thanh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa mà vẫn vắng mặt, do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về nội dung tranh chấp:

- Về hôn nhân: Bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Thanh S là những người có đủ điều kiện kết hôn, chung sống vợ chồng với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện Phú iáo, tỉnh Bình Dương vào ngày 19/4/2001 nên đây là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên đơn cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn là do bị đơn không lo làm ăn, không chăm sóc vợ con. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do cũng không có văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên HĐXX không có cơ sở để xem xét ý kiến của bị đơn.

Tại Biên bản xác minh ngày 05/12/2017, đại diện chính quyền địa phương ấp Z, xã T, huyện Phú iáo, tỉnh Bình Dương xác nhận cuộc sống gia đình giữa bà H và ônh S phát sinh nhiều mâu thuẫn. Hiện tại bà H và ônh S đã ly thân, cả hai đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm và chăm sóc lẫn nhau.

HĐXX xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn bà Phạm Thị H và bị đơn ông Nguyễn Thanh S đã trầm trọng. Tòa án nhiều lần mở phiên hòa giải nhằm hòa giải đoàn tụ cho ông bà nhưng ônh S đều vắng mặt, không có thiện chí muốn hàn gắn và cũng không có ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Thêm vào đó, nguyên đơn và bị đơn không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. HĐXX xét thấy, tình cảm vợ chồng giữa nguyên đơn, bị đơn không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nguyên đơn xin ly hôn là hoàn toàn tự nguyện và có căn cứ nên HĐXX chấp nhận cho nguyên đơn và bị đơn ly hôn theo quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về con chung: Căn cứ vào lời khai của đương sự, bản sao giấy khai sinh, bản sao sổ hộ khẩu xác định bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Thanh S có hai con chung tên Nguyễn Thanh T, sinh ngày 10/3/2001 và Nguyễn Thanh K, sinh ngày 28/11/2004.

Tại bản tự khai ngày 30/11/2017, cháu Nguyễn Thanh T trình bày nguyện vọng được sống với mẹ là bà Phạm Thị H; cháu Nguyễn Thanh K trình bày nguyện vọng được sống với mẹ là bà Phạm Thị H. Xét thấy bà H hiện có công việc và thu nhập ổn định, đủ sức khỏe, đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; đồng thời bà H có nguyện vọng được nuôi dưỡng hai con nên cần giao hai con chung Nguyễn Thanh T và Nguyễn Thanh K cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. hi nhận sự tự nguyện của bà H về việc không yêu cầu ônh S phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ nên HĐXX xem xét chấp nhận.

[5] Về án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

Vì các l trên,

QU T ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Các Điều 9, 51, 56, 57, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị H đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh S về việc “Tranh chấp ly hôn”.

1. Về hôn nhân: Bà Phạm Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Thanh S.

2. Về con chung: Giao hai con chung Nguyễn Thanh T, sinh ngày 10/3/2001 và Nguyễn Thanh K, sinh ngày 28/11/2004 cho bà Phạm Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị H về việc không yêu cầu ông Nguyễn Thanh S phải cấp dưỡng nuôi con.

Không ai được cản trở quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung của ông Nguyễn Thanh S. Vì quyền lợi hợp pháp, chính đáng của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con khi đương sự có đơn yêu cầu theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp trước đây theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án AA/2016/0008215 ngày 11/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú iáo, tỉnh Bình Dương.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./. N i nhận:

Cỡ chữ