- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do mâu thuẫn về kinh tế — án hôn nhân và gia đình — "Giải quyết Hôn nhân và gia đình"
- Căn cứ chính? Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2018/HN-ST Ngày: 09/02/2018 V/v xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Rẻn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Lớn
2. Bà Hà Thị Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Loan – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Tri – Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre: Bà Dương Thy Trúc Phương – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 09 tháng 02 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 495/2017/TLST-HN ngày 16/10/2017 về việc “Xin ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2018/QĐST - HN ngày 11 tháng 01 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1994; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre (Có mặt).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1989; Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo ñôn khôûi kieän ngaøy 04 tháng 10 năm 2017, đơn yêu cầu sửa đổi đơn khởi kiện ngày 12/12/2017, trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyeân đơn chị Trần Thị Ngọc T trình baøy:
Chị T và anh Nguyễn Văn C kết hôn năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C vào ngày 07 tháng 4 năm 2012. Hôn nhân được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, không có sự ép buộc. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẩn không thể hòa giải được. Vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẩn vợ chồng là do anh C sinh tật rượu chè, không quan tâm đến kinh tế gia đình, vợ con. Mỗi khi chị T nói chuyện, khuyên ngăn thì vợ chồng xảy ra tranh cải, bất hòa: anh C xúc phạm chị T, gia đình chị T, đôi khi còn hành hung chị T. Chính vì thế chị T đã mang con chung là cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 13/01/2012 về sống cùng gia đình ruột. Thời gian sống ly thân, anh C và chị T không có liên hệ để hàn gắn tình cảm cùng nhau. Chị T cho rằng tình cảm với anh C không còn, cuộc hôn nhân giữa chị và anh C nếu có duy trì cũng không hạnh phúc. Vì vậy chị T yêu cầu Tòa giải quyết được ly hôn với anh C.
Về con chung: Từ khi chị T và anh C sống ly thân, con chung là cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 13/01/2012 do chị T nuôi dưỡng, chị T yêu cầu tiếp tục nuôi con và không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: không có tranh chấp
Về nợ chung: không có.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh C tuy nhiên anh C không làm bản tự khai nộp cho tòa cũng không tham gia tố tụng theo giấy triệu tập của Tòa.
Tại biên bản xác minh ngày 08/12/2017 của Tòa án, cha và mẹ ruột của anh C xác định: Hôn nhân giữa anh C và chị T không được hạnh phúc, vợ chồng sống ly thân từ khoảng tháng 7/2017 đến nay. Hiện anh C đi làm thuê ở Cà Mau. Anh C biết việc chị T yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn cùng anh C nhưng vì công việc anh không về tham gia tố tụng tại tòa; Anh C yêu cầu tòa cứ giải quyết ly hôn theo yêu cầu của chị T; Về con thì đồng ý để cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 13/01/2012 chị T nuôi dưỡng, nếu chị T để con chung cho anh C nuôi thì anh C cũng chấp nhận, trường hợp ai nuôi con thì người không nuôi con cũng không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: không tranh chấp. Về nợ chung không có.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét thấy trong quá trình tố tụng, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự: Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, ngh a vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự và chấp hành nghiêm nội quy phiên tòa; Bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do; Thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử. Do đó,vụ án được đưa ra xét xử là đúng quy định pháp luật.
Về nội dung: Nhận thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T, anh C đã tồn tại mâu thuẫn trầm trọng, hai bên không thể hàn gắn để tiếp tục cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị T là có căn cứ phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Để đảm bảo cho cuộc sống sinh hoạt của con chung đề nghị Tòa áp dụng các Điều 81,82,83,84 Luật Hôn nhân và gia đình chấp giao con chung cho chị T nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tư nguyện của chị T không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không tranh chấp nên không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: không có nên không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục: Anh Nguyễn Văn C được Tòa triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử là phù hợp với quy định tại các điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về hoân nhaân: Chị Trần Thị Ngọc T và anh Nguyễn Văn C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Bến Tre ngày 07 tháng 4 năm 2012 nên quan heä hoân nhaân giöõa chị T và anh C laø hôïp phaùp.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc, từ tháng 7 năm 2017 chị T và anh C đã sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do đôi bên thiếu sự tin tưởng, yêu thương, tôn trọng nhau và không cùng quan điểm trong cuộc sống. Thời gian sống ly thân hai bên không có thiện chí, biện pháp hàn gắn tình cảm. Khi biết chị T có đơn yêu cầu Tòa giải quyết ly hôn cùng anh C anh cũng không một lần liên hệ hoặc đến tòa án gặp chị T yêu cầu hàn gắn, mà thể hiện ý kiến của anh với gia đình mình là đồng ý giải quyết việc ly hôn cùng chị T, con thì đồng ý để chị T tiếp tục nuôi, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con ( Biên bản xác minh ngày 08/12/2017 của Tòa án). Như vậy, đủ cơ sở xác định mâu thuẫn trong cuộc sống vợ chồng chị T và anh C là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh C là có căn cứ, phù hợp với quy ñònh taïi khoản 1 Ñiều 51, 56 Luật Hoân nhaân vaø Gia ñình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về con chung: Xét ý kiến của chị T về việc chị T yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 13/01/2012 cho đến khi cháu tròn 18 tuổi, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Đây là sự tự nguyện của chị T đồng thời cũng đảm bảo được quyền lợi của con chung, phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về tài sản chung: Không tranh chấp nên Hội đồng xét xử không xét đến.
. Nợ chung: không có nên nên Hội đồng xét xử không xét đến.
. Xét quan điểm đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri là cùng quan điểm nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Trần Thị Ngọc T phải chịu án phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì caùc leõ treân,
QUYEÁT ÑÒNH:
Áp dụng các điều 51, 56, 59, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy ñònh veà aùn phí, leä phí Toaø aùn.
1. Chấp nhận cho chị Trần Thị Ngọc T ly hôn với anh Nguyễn Văn C.
2. Về con chung: Chị Trần Thị Ngọc T tiếp tục nuôi dưỡng con chung là cháu Nguyễn Đăng K, sinh ngày 13/01/2012 cho đến khi cháu K tròn 18 tuổi.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con chung. Anh C có quyền thăm nom con chung. Khi có nhu cầu, vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về taøi saûn chung: không tranh chấp.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Về án phí: Chị Trần Thị Ngọc T phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn nhưng chị T được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 612.500 đồng (Sáu trăm mười hai ngàn năm trăm đồng) theo biên lai thu tiền số 0012351 ngày 04/10/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Chị T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí còn lại là 312.500 đồng (Ba trăm mười hai ngàn năm trăm đồng).
Trường hợp baûn aùn, quyết ñịnh ñược thi haønh theo quy ñịnh tại Điều 2 Luật Thi haønh aùn daân sự thì người ñược thi haønh aùn daân söï, người phải thi haønh aùn daân söï coù quyền thỏa thuận thi haønh aùn, quyền yeâu cầu thi haønh aùn, tự nguyện thi haønh aùn hoặc bị cưỡng chế thi haønh aùn theo quy ñònh tại caùc ñieàu 6, 7 vaø 9 Luật Thi haønh aùn daân sự; thời hiệu thi haønh aùn ñược thực hiện theo quy ñịnh tại Ñiều 30 Luật thi haønh aùn daân sự.
Baùo cho nguyên đơn bieát coù quyeàn khaùng caùo trong thôøi haïn 15 ngaøy troøn keå töø ngaøy tuyeân aùn sô thaåm. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ tại nơi bị đơn cư trú ñeå yeâu caàu Toøa aùn nhaân daân tænh Beán Tre xeùt xöû phuùc thaåm. Nôi nhaän:
| - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND huyeän C; -Chi cuïc THADS huyeän C; - Caùc ñöông söï; - UBND xã B; - Löu hồ sơ. | TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ THẤM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Rẻn |