vanban.org

Bản án 21/2018/DSST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Buộc ông Trần Hoàng Th và bà Nguyễn Thị K phải liên đới trả cho ông Đặng Thành T 65.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành theo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Đặng Thành T "Tranh chấp hợp đồng mua bán" Trần Hoàng Th, Nguyễn Thị K"
  • Tòa quyết gì? Buộc ông Trần Hoàng Th và bà Nguyễn Thị K phải liên đới trả cho ông Đặng Thành T 65.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH HƯNG
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2018/DS-ST
Ngày: 26-6-2018.
“V/v tranh chấp hợp đồng mua
bán”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH HƯNG

TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân.

+ Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Kim Hạnh;

2/ Ông Hồ Văn Bún.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thái Hưng – Thư ký Tòa án.

Ngày 26/6/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 46/2018/TLST-DS ngày 04/5/2018 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2018/QĐXXST-DS ngày 13/6/2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đặng Thành T, sinh năm: 1977 (Có mặt).

Địa chỉ: ấp 2, xã V, huyện V, tỉnh Long An.

Bị đơn: 1. Ông Trần Hoàng Th, sinh năm 1972 (Có mặt).

2. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1974 (Có mặt).

Cùng địa chỉ: ấp 4, xã V, huyện V, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo của nguyên đơn, ông Đặng Thành T trình bày:

Trong khoảng thời gian từ ngày 29/4/2017 đến ngày 06/8/2017 vợ chồng ông Trần Hoàng Th và bà Nguyễn Thị K nhiều lần mua phân bón, thuốc trừ sâu tại cửa hàng của ông. Đến ngày 11/12/2017 sau khi kết toán lại ông Th và bà K còn nợ ông số tiền 65.665.000 đồng. Ông đã nhiều lần yêu cầu ông Th và bà K trả số tiền trên nhưng không có kết quả.

Nay ông khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông Th và bà K liên đới trả cho ông số tiền mua phân bón và thuốc trừ sâu còn thiếu là 65.665.000 đồng và tiền lãi theo lãi suất 0,75%/tháng, tính từ tháng 8 năm 2017 cho đến nay là 09 tháng, cụ thể 65.665.000 đồng x 09 tháng x 0,75%/tháng = 4.432.000 đồng, tổng cộng gốc và lãi là 70.097.000 đồng. Yêu cầu ông Th và bà K trong thời hạn đến hết ngày 31/7/2018 phải trả hết số tiền trên.

Bị đơn ông Trần Hoàng Th trình bày: Ông thống nhất theo lời trình bày của ông T. Trong khoảng thời gian từ ngày 29/4/2017 đến ngày 06/8/2017 vợ chồng ông nhiều lần mua phân bón, thuốc trừ sâu tại cửa hàng của ông T. Ngày 11/12/2017, sau khi kết toán nợ vợ chồng ông còn thiếu ông T số tiền 65.665.000 đồng. Nay ông T khởi kiện và yêu cầu như trên, ông thống nhất thừa nhận còn thiếu ông T số tiền 65.665.000 đồng tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu và 4.432.000 đồng tiền lãi, tổng cộng số tiền còn nợ là 70.097.000 đồng. Hiện do điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn nên ông xin được trả dần mỗi năm là 40.000.000 đồng, trả cho đến khi hết số nợ 70.097.000 đồng.

Bị đơn bà Nguyễn Thị K trình bày: Bà là vợ ông Th, bà thống nhất theo lời trình bày của ông Th, bà không có yêu cầu hay trình bày bổ sung gì thêm.

Vụ kiện đã được Tòa án hòa giải nhưng không thành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 24/04/2018, ông Đặng Thành T có đơn yêu cầu Toà án nhân dân huyện Vĩnh Hưng giải quyết buộc ông Trần Hoàng Th và bà Nguyễn Thị K trả số tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu còn nợ làm phát sinh quan hệ tranh chấp hợp đồng mua bán. Đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Do ông Th, bà K cư trú tại huyện Vĩnh Hưng, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn ông Đặng Thành T yêu cầu bị đơn ông Trần Hoàng Th và bà Nguyễn Thị K phải liên đới trả cho ông 65.665.000 đồng tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu còn nợ và 4.432.000 đồng tiền lãi, đến hết ngày 31/7/2018 phải trả hết số nợ trên. Bị đơn ông Trần Hoàng Th và bà Nguyễn Thị K thừa nhận còn nợ và đồng ý trả ông Đặng Thành T 65.665.000 đồng tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu còn nợ và 4.432.000 đồng tiền lãi. Ông Th, bà K xin trả dần mỗi năm 40.000.000 đồng cho đến khi hết số nợ trên.

Xét, bị đơn ông Trần Hoàng Th và bà Nguyễn Thị K thừa nhận còn nợ và đồng ý trả ông Đặng Thành T 65.665.000 đồng tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu còn nợ và 4.432.000 đồng tiền lãi. Căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là tình tiết không cần phải chứng minh, nên Hội đồng xét xử khẳng định ông Th và bà K còn nợ ông T 65.665.000 đồng tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu còn nợ và 4.432.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là 70.097.000 đồng.

Xét về thời hạn trả nợ: Nguyên đơn ông Đặng Thành T yêu cầu bị đơn phải trả ngay một lần số nợ trên, thời hạn trả cuối cùng là ngày 31/7/2018. Ngược lại bị đơn ông Th, bà K xin trả dần mỗi năm 40.000.000 đồng, trả cho đến khi hết số nợ 70.097.000 đồng. Xét thấy yêu cầu trả nợ của bị đơn ông Th, bà K không được nguyên đơn ông T đồng ý. Mặc khác, ông T đồng ý cho bị đơn ông Th, bà K đến hết ngày 31/7/2018 phải trả hết số nợ trên, đây là sự tự nguyện của nguyên đơn có lợi cho bị đơn xét nên chấp nhận. Do đó, để đảm bảo quyền lợi và thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo luật định, cần tuyên xử buộc bị đơn ông Th, bà K phải liên đới trả cho ông Đặng Thành T số tiền 65.665.000 đồng tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu còn nợ và 4.432.000 đồng tiền lãi, tổng cộng là 70.097.000 đồng. Hạn chót để trả hết số nợ trên là ngày 31/7/2018.

Án phí: Ông Th, bà K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, 147, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 430, 440 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Buộc ông Trần Hoàng Th và bà Nguyễn Thị K phải liên đới trả cho ông Đặng Thành T 65.665.000 đồng tiền mua phân bón, thuốc trừ sâu còn nợ và 4.432.000 đồng tiền lãi, tổng cộng số tiền phải trả là 70.097.000 (Bảy mươi triệu không trăm chín mươi bảy nghìn) đồng, thời hạn trả hoàn tất là ngày 31/7/2018.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

Về án phí: Ông Trần Hoàng Th và bà Nguyễn Thị K phải liên đới nộp 3.505.000 (Ba triệu năm trăm lẻ năm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả ông Đặng Thành T 1.752.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0004784 ngày 04/5/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Hưng.

Các bên đương sự được quyền kháng cáo xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ