vanban.org

Bản án 21/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau Tuyên án 20/06/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H, buộc chị Trần Mỹ T và anh Phạm Chiến C cùng liên đới trả cho anh Nguyễn Văn H số tiền hụi còn nợ là 16.

Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn H buộc chị Trần Mỹ T và anh Phạm Chiến C trả số tiền hụi còn lại là 3.500.200 đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Anh H khởi kiện chị T và anh C là tranh chấp hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H, buộc chị Trần Mỹ T và anh Phạm Chiến C cùng liên đới trả cho anh Nguyễn Văn H số tiền hụi còn nợ là 16.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU
—————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2018/DS-ST
Ngày 20-6-2018
V/v tranh chấp hụi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Mỹ Nhi.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Minh Út.

Bà Phạm Hồng Ân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Huệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 120/2017/TLST-DS, ngày 02 tháng 11 năm 2017, về việc tranh chấp hụi, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2018/QĐXXST-DS, ngày 02 tháng 5 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1979 (Có mặt).

Cư trú: Ấp H, xã V, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Chị Trần Thị Kiều N, sinh năm 1987, cư trú: Ấp H, xã V, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 17 tháng 10 năm 2017 - Có mặt).

- Bị đơn:

1. Chị Trần Mỹ T, sinh năm 1978 (Vắng mặt).

2. Anh Phạm Chiến C, sinh năm 1979 (Vắng mặt).

Cùng cư trú: Ấp S, xã V, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25 tháng 10 năm 2017 của anh Nguyễn Văn H cùng các văn bản khác kèm theo và trong quá trình giải quyết vụ án chị Trần Thị Kiều N là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày, anh H có tham gia hụi do chị Trần Mỹ T làm chủ hụi. Hụi mở vào ngày 15/6/2014 (âm lịch), hụi 2.000.000 đồng, gồm 58 chưng, mỗi tháng khui 01 lần, anh H tham gia 01 chưng, đóng được 17 lần thì anh H không tham gia nữa. Từ khi xin ra khỏi tham gia hụi thì chị T không trả số tiền hụi mà anh H đã đóng. Trong quá trình tham gia hụi thì anh C là chồng chị T có nhiều lần đi gom hụi cùng chị T nên anh H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Trần Mỹ T và anh Phạm Chiến C trả số tiền hụi vốn góp vào của 17 lần hụi còn nợ là 20.270.000 đồng và tính lãi theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 01 tháng 12 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, chị T trình bày: Chị thừa nhận chị có làm chủ dây hụi 2.000.000 đồng, gồm 58 chưng, mỗi tháng khui 01 lần, anh H tham gia 01 chưng, dây hụi này đình vào lần khui hụi thứ 28 (ngày 15/8/2016 âm lịch) nhưng anh H chỉ đóng hụi được 09 lần thì không tham gia tiếp. Sau khi anh H không tham gia tiếp thì có tham gia dây hụi 5.000.000 đồng mở vào ngày 30/01/2015 (âm lịch) nên chị đã hoàn lại tổng số 09 lần hụi cho anh H với số tiền 11.165.000 đồng qua 02 lần trong dây hụi 5.000.000 đồng là 7.300.000 đồng. Số tiền còn lại là 3.865.000 đồng chị hoàn trả cho anh H. Do đối trừ nên chị không chấp nhận trả theo yêu cầu khởi kiện của anh H.

Tại đơn xin vắng mặt ngày 20 tháng 11 năm 2017, anh Phạm Chiến C trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị T, do hoàn cảnh đi lại khó khăn nên anh yêu cầu vắng mặt suốt quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án.

Tại biên bản ghi lời khai đối với các hụi viên tham gia trong cùng dây hụi của anh H tham gia do chị T làm chủ gồm: Anh Phan Văn U, anh Phan Văn C, anh Lê Văn N, anh Phan Văn Đ, chị Trần Thị T, chị Nguyễn Thị H, chị Lê Thị Đ, chị Trần Thị Đ, chị Nguyễn Thị Sơn H cùng ngày 16/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thì các anh chị đều xác định là ông H có tham gia hụi do chị T làm chủ nhưng các bên thanh toán tiền hụi như thế nào các anh chị không biết cũng như không biết anh H đóng được bao nhiêu lần hụi cho chị T. Riêng anh Phan Văn Đ xác định là anh H đóng được 17 lần hụi nhưng nghe anh H nói lại.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 471 của Bộ luật dân sự. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H là số tiền vốn của 09 lần hụi và tính lãi theo quy định của pháp luật. Đồng thời các đương sự chịu án phí theo quy định chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Anh H khởi kiện chị T và anh C là tranh chấp hụi nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đồng thời, anh C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị T được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và các khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với tranh chấp nêu trên, các đương sự đều thừa nhận anh H có tham gia hụi 2.000.000 đồng, mở vào ngày 15/6/2014 (âm lịch) do chị T làm chủ và khui hụi đến lần thứ 28 (ngày 15/8/2016 âm lịch) thì chị T đình hụi. Chị N cho rằng anh H đóng được 17 lần hụi nhưng chị T không thừa nhận và anh H cũng không có tài liệu chứng cứ khác chứng minh. Quá trình Tòa án tiến hành xác minh các hụi viên khác trong cùng dây hụi đều xác định giữa anh H, chị T thanh toán hụi như thế nào thì các hụi viên này hoàn toàn không biết, cũng không biết anh H đóng được bao nhiêu lần hụi. Trong khi đó chị T chỉ thừa nhận là anh H đóng được 09 lần hụi thì không tham gia tiếp nên số tiền hụi này chị đã thanh toán xong nhưng chị T không có chứng cứ chứng minh cho việc chị hoàn lại số tiền hụi mà anh H đã đóng. Từ đó, xác định anh H có tham gia hụi, đóng được 09 lần hụi và chị T chưa hoàn trả cho anh H là có căn cứ.

Do đình hụi và phía anh H, chị T đều có theo dõi các lần bỏ hụi nhưng chị T chỉ cung cấp 09 lần thì lần thứ 09 các bên theo dõi có sự chênh lệch là 120.000 đồng. Chị T và anh H không đối chất được nên chấp nhận theo sự theo dõi của anh H. Từ đó, xác định số tiền vốn mà anh H đóng được là 11.285.000 đồng/09 lần hụi. Sau khi anh H không tham gia hụi tiếp thì được chị T chấp nhận nhưng chị T không trả số tiền hụi vốn anh H góp hụi nên số tiền vốn được tính lãi theo quy định của pháp luật là có căn cứ. Về thời gian tính lãi từ ngày tham gia hụi là 15/6/2014 âm lịch tương đương ngày 11/7/2014 dương lịch nên tiền lãi được tính là số tiền vốn của từng lần đóng hụi x 1,125%/01 tháng x thời gian của từng lần đóng hụi đến khi xét xử sơ thẩm là 5.484.800 đồng.

Từ những phân tích trên, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H, buộc chị Trần Mỹ T và anh Phạm Chiến C cùng liên đới trả số tiền hụi còn nợ là 16.769.800 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn H đối với số tiền hụi còn lại là 3.500.200 đồng theo quy định tại các điều 471, 476 và 479 của Bộ luật dân sự năm 2005.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 471, 476 và 479 của Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H, buộc chị Trần Mỹ T và anh Phạm Chiến C cùng liên đới trả cho anh Nguyễn Văn H số tiền hụi còn nợ là 16.769.800 đồng.

2. Không chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn H buộc chị Trần Mỹ T và anh Phạm Chiến C trả số tiền hụi còn lại là 3.500.200 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch, chị Trần Mỹ T và anh Phạm Chiến C cùng chịu 838.490 đồng. Anh Nguyễn Văn H chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 850.000 đồng tại biên lai thu tiền số 0006789 ngày 02 tháng 11 năm 2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Nay đối trừ anh Nguyễn Văn H được nhận lại số tiền là 550.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ