vanban.org

Bản án 21/2018/DS-PT — Dân sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 17/01/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/01/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 428, 438 Bộ luật dân sự 2005; Pháp l nh về án phí, l phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, l phí Tòa án.

Không ch p nhận kháng cáo của bà Trần Thị G; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2017/DS-ST ngày 27/9/2017, của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp. Ch p nhận yêu cầu của ông Tô Văn B đối với bà Trần Thị G. Buộc bà Trần Thị G trả cho ông Tô Văn B số tiền sang quán nước giải khát còn n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 53/2017/DSST Tuyên án 27/09/2017
Phúc thẩm — đang xem Bản án 21/2018/DS-PT Tuyên án 17/01/2018

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp về dân sự - hợp đồng mua bán"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 428, 438 Bộ luật dân sự 2005; Pháp l nh về án phí, l phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, l phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 428 Bộ luật Dân sự; Điều 438 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2018/DS-PT
Ngày: 17- 01-2018
V v Tranh ch p về dân sự - hợp
đồng mua bán tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Phương.

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Mai.

Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thùy Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Th p: Ông Nguyễn Ngọc Thanh – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 17/01/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 265/2017/TLPT-DS ngày 28 tháng năm

7 về vi c Tranh ch p về dân sự - hợp đồng mua bán tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 53/2017/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 7 của Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc tỉnh Đồng tháp ị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 390 7 QĐ-PT ngày 9 tháng năm 7 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Tô Văn B sinh năm 954 (Có mặt).

Địa chỉ cư trú: đường V Khóm Phường 1, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

Địa chỉ liên h : đường P Khóm Phường 3, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Bà Trần Thị G sinh năm 963 (Có mặt).

Địa chỉ cư trú: p T xã Tân Phú Đ thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân thành phố S

Người đại di n theo pháp luật của Ủy ban nhân dân thành phố S là ông Võ Thanh T – Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố S.

4. Người kháng cáo: Bà Trần Thị G là bị đơn trong vụ án.

NỘI NG V N

Trong quá trình tố tụng tại tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Tô Văn B trình bày:

Ngày 30-6-

ông Tô Văn B ký Hợp đồng thuê mặt bằng với Uỷ ban nhân dân thành phố S để thuê mặt bằng ngang 7m, dài 10m, di n tích 70m2 tại Lô 09 vỉa hè cổng A - Công viên S mở rộng giá thuê là 45 . đồng/tháng, thời hạn thuê 06 tháng từ 7

đến 31/12/2012. Ông B mở quán án nước giải khát tại mặt bằng trên.

Ngày 01-9-2012, ông B thỏa thuận sang quán giải khát lại cho bà Trần Thị G. Theo đó ông B chuyển toàn bộ tài sản trong quán cho bà G gồm: 01 xe nước mía, bàn, ghế, ly, tách, bảng hi u, mái che và h thống đi n cho bà G với giá 3 . . đồng đồng thời, bà G phải chịu trách nhi m trả tiền thuê mặt bằng 03 tháng còn lại cho Ủy ban nhân dân thành phố S.

Bà G đã trả cho ông B tổng số tiền . . đồng, 02 lần như sau:

- Ngày 01-9-2012 bà G trả . . đồng. Khi giao tiền hai bên không làm biên nhận.

- Đến ngày 03-12-2012 bà G tiếp tục trả 1 . . đồng.

- Còn nợ . . đồng, bà G hứa đến ngày 31-12-2012 sẽ trả. Bà G nhờ ông B ghi biên nhận để bà G ký tên. Ông B có viết 02 biên nhận giống nhau, nội dung à G có sang quán án nước giải khát của ông Tô Văn B số tiền 3 . . đồng, bà G đã trả trước . . đồng, còn nợ . . đồng, đến 31/12/2012 sẽ thanh toán đủ cho ông B. Cuối biên nhận bà G và ông B có ký tên ghi họ, tên.

Từ 01-9-2 đến 31-12-2012, do Hợp đồng thuê mặt bằng vẫn là tên của ông B nên Ban quản lý công trình đô thị vẫn yêu cầu ông B trả tiền thuê, mặc dù ông B và à G đã thỏa thuận bà G phải trả. Ông B trả 03 tháng tiền thuê mặt bằng là .35 . đồng. Sau đó à G đã trả cho ông B tiền thuê 01 tháng là 4 . đồng (thiếu 5 . đồng), còn lại 02 tháng là 900.000 đồng, bà G không trả cho ông B. Ngoài ra, bà G không trả tiền sang quán cho ông B theo biên nhận ngày 03-12-2012.

Nay, ông B yêu cầu bà G trả tiền sang quán còn nợ là . . đồng, không yêu cầu tính lãi.

Trong quá trình tố tụng tại tòa sơ thẩm, bị đơn Trần Thị G trình bày:

Tháng 9-2012, bà G có thỏa thuận với ông B về vi c sang mặt bằng quán nước tại công viên S. Ông B nói với bà G là mặt bằng trên ông được Nhà nước c p suốt đời. Do tin lời ông B nên à G đồng ý sang mặt bằng cùng vật dụng bán quán nước giải khát trong quán với giá 3 . . đồng. Bà G đã trả trước cho ông B . . đồng, còn lại . . đồng bà hứa đến ngày 31-12-2012 sẽ trả dứt. Sau đó à G iết được mặt bằng là do ông B thuê của Uỷ ban nhân dân thành phố S và vi c sử dụng mặt bằng phải theo sự sắp xếp của Ban Quản lý công trình đô thị do đó à G yêu cầu ông B hủy hợp đồng, trả lại tiền cho bà, bà G sẽ trả lại mặt bằng và vật dụng án quán cho ông B nhưng ông B nói là không có tiền để trả cho à. Do đó à G vẫn tiếp tục thực hi n hợp đồng nhưng nói với ông B là khi nào có tiền mới trả lại cho ông B . . đồng (không thời hạn). Ồng B đồng ý nên bà G không yêu cầu hủy hợp đồng. Sau đó à G trực tiếp ký Hợp đồng thuê mặt bằng với Uỷ ban nhân dân thành phố S.

Đối với yêu cầu của ông B à G không đồng ý trả cho ông B số tiền . . đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Uỷ ban nhân dân thành phố S trình bày:

Ủy ban nhân dân thành phố S căn cứ vào thẩm quyền có giao nhi m vụ cho Ban Quản lý công trình đô thị thành phố S tổ chức, thực hi n phương án cho thuê mặt bằng tại công viên S từ năm

9 là hoàn toàn đúng với quy định của pháp luật.

Bà Trần Thị G có ký hợp đồng thuê mặt bằng với Ban quản lý công trình đô thị từ ngày 30-11-2012. Trong thời gian thuê mặt bằng, bà G có thanh toán tiền thuê đầy đủ. Hợp đồng thuê lần cuôi cùng vào ngày 01-3- 6 đến 01- 8-2016. Tuy nhiên, do bà G không thanh toán tiền thuê mặt bằng từ tháng 4- 2016, không còn buôn bán tại mặt bằng thuê (lô 9) do đó Ban Quản lý công trình đô thị đã thanh lý hợp đồng với bà G từ tháng 4-2016. Hi n nay tại lô 9 đang ỏ trống chưa cho ai thuê lại.

Tại ản án dân sự sơ thẩm số: 53/2017/DS-ST ngày 7 tháng 9 năm 7 của Toà án nhân dân thành phố Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp đã quyết định tuyên xử:

Ch p nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn ông Tô Văn B về vi c yêu cầu bị đơn à Trần Thị G trả tiền mua án quán nước giải khát là 10.000.000 đồng (Mười tri u đồng).

Buộc bà Trần Thị G trả cho ông Tô Văn B số tiền sang quán nước giải khát còn nợ là . . đồng (Mười tri u đồng).

Về án phí sơ thẩm: Bà Trần Thị G phải chịu 5 . đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Tô Văn B được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp ngày 08/01/2014 theo biên lai số 15658 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Sa Đéc.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 7

7 à Ghi kháng cáo không đồng ý trả . . đồng cho ông B, bà G yêu cầu hủy hợp đồng bà G trả lại ông B tài sản quán, ông B trả lại cho à G . . đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Tô Văn B giữ nguyên yêu cầu khởi ki n đòi bà G trả . . đ tiền nợ sang quán.

Bà Trần Thị G giữ nguyên yêu cầu kháng cáo không đồng ý trả cho ông B tiền nợ sang quán . . đ vì cho rằng trước đây ông B đã hứa số tiền này khi nào bà có tiền thì trả, không có nói thời hạn, nay bà nghỉ bán quán nên không có tiền trả và yêu cầu hủy hợp đồng, bà trả tài sản quán lại ông B, ông B trả lại à . . đ.

Ý kiến của Vi n kiểm sát nhân dân tỉnh phát biểu về tố tụng của Thẩm phán Thư ký Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa đều thực hi n đúng quy định của pháp luật; về nội dụng đề nghị không ch p nhận kháng cáo của bà G, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài li u, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Vi c thỏa thuận sang quán án nước giải khát tại Công viên S của ông Tô văn B cho à Trần Thị G giá 3 . . đ (không tính mặt bằng thuê) là sự thật được các bên thừa nhận cũng như vi c thanh toán trước . . đ à G còn nợ lại ông B . . đ xác lập gi y nợ ngày 03/12/2012 bà G hứa đến 31/12/2012 trả à G có ký tên vào văn ản nợ các ên cũng thừa nhận đúng.

. Bà G đã vi phạm thời hạn trả nợ theo lời hứa của bà, bà G đưa ra lý do không trả nợ cho ông B cũng như kháng cáo ản án sơ thẩm cho rằng ông B nói dối với bà khi giao kết hợp đồng là mặt bằng quán nhà nước c p cho ông B suốt đời, nên bà mới đồng ý sang quán, khi bà phát hi n mặt bằng thuê, ông B đã thỏa thuận thống nh t cho bà nợ số tiền . . đ không thời hạn, khi nào bà có tiền bà tự trả nhưng đây chỉ là lời khai nại, không có tài li u, chứng cứ chứng minh. Trong khi thực tế th : Sau khi sang nhượng tiếp nhận quán từ ông B, à G đã tiến hành ký hợp đồng thuê mặt bằng với Ủy Ban nhân dân thành phố S từ ngày 30/11/2012 và tiến hành kinh doanh buôn bán tại đây liên tục kéo dài nhiều năm đến tháng 4/2016 mới ch m dứt, cho th y bà G biết rõ mặt bằng quán là ông B thuê, chứ không phải được c p suốt đời, thời điểm bà G biết vi c này là trước thời điểm à G ký văn ản xác lập nợ với ông B (ngày 03/12/2012), ngày xác lập gi y nợ là sau ngày bà G ký hợp đồng thuê mặt bằng nhưng trên gi y nợ bà G hứa đến 31/12/2012 bà trả khoản nợ này, không ghi là nợ không thời hạn, khi nào có tiền thì trả, cho nên lời khai nại của à G là không có căn cứ.

. Tài sản của quán sang nhượng chủ yếu là đồ dùng, vật dụng mau hỏng à G đã tiếp nhận sở hữu, sử dụng nhiều năm cũng như hợp đồng các bên đã thực hi n xong, chỉ còn một phần nghĩa vụ nợ bà G chưa trả theo lời hứa, do đó nay à G yêu cầu hủy hợp đồng, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, bà không trả . . đ cho ông B là không có căn cứ pháp luật.

. Ý kiến của đại di n Viên kiểm sát nhân dân tỉnh tại phiên tòa đề nghị không ch p nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của à G là có căn cứ được ch p nhận.

. Từ những tình tiết, nội dung nhận định trên có đủ cơ sở kết luận: Tòa án c p sơ thẩm xử ch p nhận yêu cầu của ông B, buộc bà G trả số tiền nợ . . đ cho ông B là có căn cứ phù hợp pháp luật phải được giữ nguyên; nội dung, yêu cầu kháng cáo của à G là không có căn cứ không được ch p nhận.

. Do kháng cáo không được ch p nhận nên bà G phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo luật định.

. Các phần khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hi u lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản Điều 148 và khoản Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng: Điều 428, 438 Bộ luật dân sự 2005; Pháp l nh về án phí, l phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, l phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không ch p nhận kháng cáo của bà Trần Thị G; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 53/2017/DS-ST ngày 27/9/2017, của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc tỉnh Đồng Tháp.

2. Ch p nhận yêu cầu của ông Tô Văn B đối với bà Trần Thị G. Buộc bà Trần Thị G trả cho ông Tô Văn B số tiền sang quán nước giải khát còn nợ là . . đ(mười tri u đồng).

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trần Thị G nộp 5 . đồng (Năm trăm nghìn đồng).

Ông Tô Văn B được nhận lại tiền tạm ứng án phí 273.750đ (Hai trăm ảy mươi a nghìn ảy trăm năm mươi đồng) nộp ngày 08/01/2014, theo biên lai số 15658 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành khoản tiền phải thi hành án thì người phải thi hành án còn phải chịu lãi của khoản tiền chưa thi hành theo mức lãi su t quy định tại khoản Điều 468 Bộ luật dân sự 5 cho người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bà Trần Thị G phải nộp 3 . đồng được kh u trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 01163, ngày 18/10/2017 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc à G đã nộp xong.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hi u lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ