vanban.org

Bản án 21/2017/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 28/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vàng A N1 (V, T) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.

[1] Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 194; khoản 1 Điều 230; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 50 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Vàng A N1 15 (Mười lăm) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; 01 (Một) năm tù về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 16 (Mười sáu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A N1 - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vàng A N1 (V, T) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.
  • Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 230 Bộ luật Hình sự; Điều 32 Bộ luật Hình sự
T A N NH N D N
TỈNH S N LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2017/HSST
Ngày 08 tháng 12 năm 2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH S N LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Đào

Lèo Thị Chan

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 21/2017/HSST ngày 22 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo sau đây:

Vàng A N1, tên gọi khác: V, T, sinh năm: 1981; nơi ĐKHKTT: Bản M, cụm P– H, huyện S, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào; nghề nghiệp: trồng trọt; trình độ văn hóa: lớp 3 (Lào); dân tộc: Mông; quốc tịch: Lào, tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: không; con ông: Vàng A Svà bà Tráng Thị N2, có vợ là Mùa Thị G và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2004; con nhỏ nhất sinh năm 2014); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/3/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ N:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ ngày 02/3/2017, tại khu vực bản K, xã X, huyện V, tổ công tác Công an huyện V phối hợp với đồn Biên phòng X, Bộ đội Biên phòng Sơn La phát hiện và bắt quả tang Vàng A N1 (Nhìa) trú tại bản M, cụm P– H, S, Hủa Phăn, Lào đang có hành vi vận chuyển 10 túi nilon chứa các viên nén màu hồng (nghi là ma túy tổng hợp) và 01 khẩu súng ngắn kèm hộp tiếp đạn (nghi là vũ khí quân dụng) cùng một số đồ vật khác có liên quan.

Cơ quan điều tra - Công an huyện V đã cân tịnh, trích mẫu gửi giám định xác định được 10 túi nilon chứa 1.950 viên nén màu hồng thu giữ của Vàng A N1 có trọng lượng 189,94 gam, kết quả giám định là loại chất Methamphetamine. Kết luận khẩu súng ngắn và đạn, lựu đạn gửi giám định là súng, đạn, lựu đạn quân dụng

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vàng A N1 (Nhìa) khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 02/3/2017, N1 nhận được điện thoại của Vàng Thị N3 ở cùng bản bảo N1 sang nhà N3 có việc. Khi N1 sang nhà N3 thì N3 đặt vấn đề thuê N1 vận chuyển 10 túi hồng phiến đến khu vực Biên giới Việt – Lào thuộc bản K, xã X, huyện V, tỉnh Sơn La giao cho một người đàn ông mua ma túy bên Việt Nam và nhận 40.000.000 VNĐ đem về cho N3, N3 trả công cho N1 2.000.000 VNĐ, N1 đồng ý. N3 đưa trước cho N1 1.000.000 VNĐ, số tiền còn lại khi xong việc N3 sẽ trả nốt. N1 cầm 1.000.000 VNĐ về đưa cho vợ rồi quay lại nhà N3, N3 đưa cho N1 10 túi hồng phiến, 01 khẩu súng ngắn, 01 quả lựu đạn đem theo để phòng thân, 01 chiếc điện thoại di động có số của người mua ma túy bên Việt Nam để liên lạc giao ma túy và nhận tiền. N1 bỏ gói ma túy, súng, lựu đạn, điện thoại vào túi áo khoác đang mặc rồi đi bộ theo đường rừng sang địa phận bản K, xã X, huyện V - Việt Nam để giao ma túy và nhận tiền giao cho N3 thì bị tổ công tác phát hiện và bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.

Đối với nguồn gốc số ma túy và súng, đạn, lựu đạn quân dụng thu giữ trong vụ án: Vàng A N1 khai là của Vàng Thị N3 trú tại bản M, cụm P– H, huyện S, tỉnh Hủa Phăn, nước CHDCND Lào đưa cho N1. Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Sơn La đã ủy thác tư pháp hình sự đề nghị Công an tỉnh Hủa Phăn – Lào xác minh, điều tra đối với Vàng Thị N3 và xử lý theo pháp luật Lào.

Tại cáo trạng số 1063/VKS-P1 ngày 20/11/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Vàng A N1 (V, T) về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm e khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự và tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, theo khoản 1 Điều 230 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Vàng A N1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.

Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 194; khoản 1 Điều 230; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 50; Điều 32 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Vàng A N1 từ 15 đến 16 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, từ 02 đến 03 năm về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, tổng hợp hình phạt chung của hai tội từ 17 đến 19 năm tù. Trục xuất bị cáo ra khỏi nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Vàng A N1 nhận thức được chất ma túy bị nhà nước Việt Nam nghiêm cấm nhưng vì hám lợi đã cố ý vận chuyển trái phép 189,94 gam loại chất Methamphetamine từ Lào sang Việt Nam để bán, mục đích để hưởng 2.000.000 VNĐ tiền công. Ngoài ra, Vàng A N1 còn thực hiện hành vi tàng trữ 01 khẩu súng quân dụng PA63 bên trong có 06 viên đạn và 01 quả lựu đạn với mục đích phòng thân. Ngày 02/3/2017, khi Vàng A N1 đang vận chuyển trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng thì bị kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.

Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội qủa tang lập hồi 13 giờ 15 phút ngày 02/3/2017 tại khu vực bản K, xã X, huyện V, tỉnh Sơn La đối với bị cáo Vàng A N1 cùng vật chứng thu giữ là 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 10 túi nilon màu xanh chứa các viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên nén có ký hiệu WY và 01 khẩu súng ngắn màu đen – bạc ký hiệu PA63 bên trong có hộp tiếp đạn chứa 06 viên đạn, 01 khối hình cầu vỏ bằng nhựa có mỏ vịt.

Tại bản kết luận giám định số 308/KLMT ngày 06/3/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: các mẫu viên nén gửi giám định là chất ma túy, loại chất Methamphetamine, tổng trọng lượng chất ma túy thu giữ được là 189,94 gam loại chất Methamphetamin.

Kết luận giám định số 200/KLGĐ ngày ngày 06/3/2017 và kết luận số 221/KLGĐ ngày 14/3/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: Khẩu súng ngắn gửi giám định là súng quân dụng, loại súng PA63 do Hungari sản xuất và khối hình cầu vỏ bằng nhựa có mỏ vịt bằng kim loại là lựu đạn quân dụng; 06 viên đạn gửi giám định là đạn quân dụng.

- Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ.

Từ các căn cứ nêu trên đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Vàng A N1 (Nha Vàng, Vàng Thào Nhìa) đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 194, Điều 230 Bộ luật Hình sự.

Khung hình phạt áp dụng: Bị cáo đã thực hiện hành vi vận chuyển trái phép 189,94 gam loại chất Methamphetamine nhằm mục đích bán hộ để được nhận tiền công, vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Các chất ma túy khác ở thể rắn có trọng lượng từ 100gam đến dưới 300gam”, quy định tại điểm e khoản 3 Điều 194 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm.

Hành vi tàng trữ bất hợp pháp vũ khí quân dụng là 01 khẩu súng PA63 kèm 06 viên đạn và lựu đạn quân dụng nhằm mục đích phòng thân của bị cáo Vàng A N1 đã vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 230 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ một năm đến bảy năm.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự an toàn chung, xâm phạm đến chế độ quản lý của N1 nước đối với chất ma túy và vũ khí quân dụng, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức r hành vi của mình là vi phạm pháp luật Việt Nam, song vì hám lời đã bất chấp pháp luật thực hiện tội phạm. Do đó, cần có hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội nhằm cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét về nhân thân: bị cáo không có tiền án tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung (phạt ti n) theo quy định tại khoản 5 Điều 194 và khoản 5 Điều 230 Bộ luật Hình sự, song xét thấy bị cáo không có điều kiện thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt ti n) đối với bị cáo.

Bị cáo là người nước ngoài, phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt chính là phạt tù, cần áp dụng hình phạt bổ sung trục xuất bị cáo ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo Điều 32 Bộ luật Hình sự.

Vật chứng vụ án:

- Đối với 175,01 gam loại chất Methamphetamin còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định, xét đây là loại hàng N1 nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy cùng 01 chiếc áo khoác màu đen không còn giá trị sử dụng.

- Đối với 01 chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo khi bắt quả tang, quá trình điều tra xác định được đây là tài sản của người thuê bị cáo vận chuyển ma túy đưa cho bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ N1 nước.

- Đối với 01 khẩu súng PA63 kèm 01 hộp tiếp đạn và 06 viên đạn quân dụng cần giao cho Công an tỉnh Sơn La tiếp nhận, quản lý theo thẩm quyền.

- Đối với 01 quả lựu đạn quân dụng cần giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La tiếp nhận, quản lý theo thẩm quyền.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Vàng A N1 (V, T) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng.

[1] Áp dụng điểm e khoản 3 Điều 194; khoản 1 Điều 230; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 50 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Vàng A N1 15 (Mười lăm) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; 01 (Một) năm tù về tội Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 16 (Mười sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/3/2017.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt ti n) đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 32 Bộ luật Hình sự: trục xuất bị cáo Vàng A N1 ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

[2] Về vật chứng vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 175,01 gam loại chất Methamphetamin được niêm phong trong một chiếc phong bì do Công an huyện V phát hành và 01 chiếc áo khoác màu đen, có khóa bằng kim loại đã qua sử dụng.

- Tịch thu sung công quỹ N1 nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu GIONEE Model L800, vỏ màu đỏ, đen, vỏ ngoài bị nứt, vỡ; IMEI có 04 số cuối 2743 kèm 02 sim trong máy.

- Giao cho Công an tỉnh Sơn La tiếp nhận quản lý theo thẩm quyền: 01 khẩu súng quân dụng loại PA63 màu đen, bạc trên súng có ký hiệu AV 2229 kèm 01 hộp tiếp đạn và 06 viên đạn quân dụng bằng kim loại.

- Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Sơn La tiếp nhận, quản lý theo thẩm quyền: 01 quả lựu đạn quân dụng dạng hình cầu, vỏ bằng nhựa trên lựu đạn có ký hiệu 86P01 – 03832, đã qua sử dụng.

[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Cỡ chữ