- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đình P phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự nă…"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Vũ Đình P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự
| T A ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2017/HSST Ngày: 16/5/2017 |
NHÂN DANH
N C C NG H A XÃ H I CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
T A ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Công Đồng.
Thẩm phán:
Ông Nguyễn Đắc Dũng.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lâm.
Ông Nguyễn Trọng Nam.
Bà Vũ Thị Hằng.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Đinh Văn Khuyến.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liệu - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 16 tháng 5 năm 2017, tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường Đồng Kỵ, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 08/2017/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2017 đối với bị cáo: Vũ Đình P, sinh ngày 15/12/1995.
Nơi ĐKHKTT: thôn N, xã X, huyện G, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Vũ Đình T (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1974; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2016. Có m t tại phiên tòa. * Người bào chữa cho bị cáo P: Ông Nguyễn Xuân T2, luật sư thuộc Công ty luật TNHH B - Đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh. Có m t.
NHẬN THẤY
Bị cáo Vũ Đình P bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Hồi 16 giờ 40 phút ngày 13/8/2016, tại Quốc lộ 17 thuộc địa phận thôn Đ, xã X, huyện G, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác của Phòng cảnh sát điều tra về ma túy (PC47) Công an tỉnh Bắc Ninh phối hợp với Công an huyện G bắt quả tang Vũ Đình P về hành vi mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ của P gồm: 01 bao tải dứa màu vàng bên trong có 04 khối hình hộp chữ nhật có kích thước 15 x 10 x 2cm, bên ngoài được bọc bằng nhiều lớp nilon và giấy, mở ra bên trong cùng đều chứa chất bột màu trắng dạng cục, P khai đó là 04 bánh heroin của P mới mua từ Sơn La về để bán nhưng chưa kịp bán thì bị công an bắt giữ và niêm phong; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu trắng vàng có số ImeI: 358756054954750.
Cùng ngày 13/8/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh đã ra quyết định trưng cầu giám định số chất bột nghi là ma túy thu giữ của P.
Tại bản kết luận giám định số: 338/KLGĐ - PC54 ngày 13/8/2016 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Chất màu trắng gửi giám định trong 04 bánh hình hộp chữ nhật có khối lượng là 1179,8700 gam, có thành phần heroine.
Ngày 25/8/2016, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh đã ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung về hàm lượng chất ma túy đã thu giữ của P.
Tại bản Kết luận giám định số: 3808/C54 (TT2) ngày 26/9/2016 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an đã kết luận: mẫu chất bột màu trắng trong 10 túi nilon gửi giám định có hàm lượng Heroine trung bình là 57,4%.
Quá trình điều tra, Vũ Đình P khai nhận:
Trước ngày 13/8/2016 khoảng 01 tháng, P có g p một người thanh niên tại tỉnh Hòa Bình. Người thanh niên này giới thiệu với P tên anh ta là Giàng A P, sinh năm 1985 quê ở tỉnh Sơn La, qua nói chuyện, P biết P có ma túy để bán, P đã trao đổi số điện thoại di động với P. P không biết địa chỉ cụ thể của P ở đâu.
Ngày 10/8/2016, P sang nhà Hoàng Văn K, sinh năm 1982, ở cùng thôn với P chơi. Tại nhà K, P nói với K: “Chú hỏi xem có ai mua ma túy không, cháu có mối bán ma túy ở Sơn La, giá là 180 triệu đồng một bánh heroin, chú bán cho khách bao nhiêu là quyền của chú”. K nói với P: “Mày cứ mang về đây chú bán cho”. P và K cho nhau số điện thoại để khi cần thì liên lạc, số điện thoại của P là 0985.104.777, số điện thoại của K là 0936.870.038. Sau đó, P đi về nhà. Sáng ngày hôm sau tức ngày 11/8/2016, K gọi điện thoại cho P nói là “Có người cần mua 04 bánh heroin”. P trả lời là “bảo khách đợi 1-2 hôm để cháu đi Sơn La lấy hàng đã”. K đồng ý. Sau đó, P liên lạc điện thoại với Giàng A P và thỏa thuận với P là P mua chịu 04 bánh heroin của P với giá 178 triệu đồng một bánh, khi nào P bán được thì sẽ mang tiền lên trả cho P.
Sáng ngày 12/8/2016, P đi xe ô tô khách lên Sơn La. Khi đi đến địa phận huyện M, tỉnh Sơn La (P không rõ địa điểm cụ thể), P g p P đang đợi ở ven đường quốc lộ 6 nên P xuống xe. P đưa cho P một chiếc bao tải dứa đã cũ màu vàng, bên trong đựng 04 bánh Heroine. Sau đó P bỏ đi, còn P xách chiếc bao tải dứa trong có 04 bánh heroin vào một nhà nghỉ ở ven đường để nghỉ qua đêm (P không nhớ là nhà nghỉ nào). Sáng ngày 13/8/2016, P xách chiếc bao tải dứa trong đựng 04 bánh heroin ra đón xe khách đi về Bắc Ninh. Đến chiều ngày 13/8/2016, P về đến xã X, huyện G và xuống xe ô tô, xách chiếc bao tải dứa trong có chứa 04 bánh heroin, đi bộ để đem đến nhà Hoàng Văn K bán, nhưng khi đi đến thôn Đ, xã X, huyện G thì bị bắt.
Đối với đối tượng Giàng A P: do P chỉ biết tên, không biết địa chỉ cụ thể, không nhớ số điện thoại liên lạc nên không xác minh làm rõ được. Riêng Hoàng Văn K đã bỏ trốn khỏi địa phương. Cơ quan điều tra đã xác minh số điện thoại 0936.870.038 mà P khai là của K. Nhưng kết quả xác minh cho thấy số điện thoại này không mang tên Hoàng Văn K mà mang tên một người khác không rõ địa chỉ cụ thể nên đã tách ra để giải quyết sau.
Tại bản cáo trạng số: 14/Ctr – VKS - P1 ngày 23/3/2017 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố Vũ Đình P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Vũ Đình P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trong bản Cáo trạng. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm: bị cáo Vũ Đình P đã mua bán trái phép 1179,8700 gam heroine. Hành vi phạm tội của bị cáo là đ c biệt nguy hiểm cho xã hội vì số lượng ma túy là đ c biệt lớn. Tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội không có tình tiết tăng n ng nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 34 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo P hình phạt tù Chung thân. Đại diện Viện kiểm sát cũng đề nghị phạt bị cáo từ 10 đến 15 triệu đồng sung công qu nhà nước và đề nghị tịch thu điện thoại của bị cáo.
Luật sư Nguyễn Xuân Tùng bào chữa cho bị cáo P phát biểu quan điểm: đồng ý với đề nghị của Viện kiểm sát về tội danh và điều luật áp dụng. Tuy nhiên, ông luật sư đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì Phùng chưa được hưởng lợi từ việc mua bán ma túy.
Bị cáo P không tranh luận nhưng thống nhất với quan điểm của người bào chữa.
Đại diện Viện kiểm sát trong tranh luận kh ng định bị cáo P mua bán ma túy nhằm mục đích hưởng lợi bất chính nên vẫn giữ quan điểm phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo như đã đề nghị.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và của những người tham gia tố tụng khác.
XÉT THẤY
Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Đình P là phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để kh ng định bị cáo P có hành vi mua bán trái phép 04 bánh ma túy, có khối lượng là 1179,8700gam, có thành phần là heroine, hàm lượng trung bình là 57,4%. Như vậy, lượng chất ma túy mà P mua bán trái phép là 1179,8700 gam x 57,4% = 677,245 gam heroin. Hành vi của bị cáo đã phạm tội theo qui định tại điểm b khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh là đúng .
Hành vi phạm tội của bị cáo là đ c biệt nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ ngoài những tác hại trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng thì ma túy còn gây suy yếu giống nòi, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác nhưng chỉ vì hám lợi mà bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Khối lượng ma túy mà bị cáo mua bán là đ c biệt lớn, lên đến 677,245 gam heroin. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số: 01/2001/NQ - HĐTP ngày 15/3/2001 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì với khối lượng heroin mua bán trái phép từ 600 gam trở lên, mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo phải là tử hình. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo tuổi đời còn trẻ, trước khi phạm tội chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo có bà nội được t ng thưởng huân chương, bố đẻ bị cáo là Vũ Đình T đã bị thi hành án tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” vào năm 2014. Mẹ đẻ bị cáo là Nguyễn Thị H đã nộp tiền để mong con trai duy nhất được hưởng khoan hồng. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy chỉ cần áp dụng mức hình phạt cách ly bị cáo không thời hạn khỏi đời sống xã hội cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Theo lời khai của P, bị cáo đã mua ma túy với giá 178 triệu đồng một bánh và sẽ bán với giá 180 triệu đồng một bánh. Tuy chưa có căn cứ bị cáo đã hưởng lợi bất chính nhưng mục đích mua bán ma túy của bị cáo nhằm hưởng lợi nên cần phạt P một khoản tiền sung công quỹ Nhà nước.
Về vật chứng của vụ án: cần tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Đối với chiếc điện thoại của bị cáo đã sử dụng làm công cụ, phương tiện liên lạc để mua bán ma túy nên cần tịch thu sung công. Đối với Giấy chứng minh thư nhân dân là giấy tờ tùy thân của bị cáo có trong hồ sơ vụ án cần trả lại bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
* Tuyên bố bị cáo Vũ Đình P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
* Áp dụng điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 34; Điều 41, Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 76; Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Xử phạt bị cáo Vũ Đình P tù Chung thân. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 13/8/2016. Quyết định duy trì Lệnh tạm giam số: 44/2017/HSST – LTG ngày 07/4/2017 của TAND tỉnh Bắc Ninh đối với bị cáo Vũ Đình P để đảm bảo thi hành án. Phạt bị cáo Vũ Đình P 10.000.000 đồng sung công qu nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy màu trắng hình vuông, phía m t nghiêng của hộp giấy có ghi: Tổng cục cảnh sát, Viện khoa học hình sự, số: 3808/C54(TT2); Kính gửi: Phòng CSĐT tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Bắc Ninh. Các m t xung quanh hộp giấy được niêm phong dán kín, trên các mép dán có dấu đỏ của Phòng 8 - Viện khoa học hình sự - Bộ Công an và có chữ ký của Đ ng Thị M là giám định viên. Tịch thu tiêu hủy 01 bao tải dứa màu vàng.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone màu vàng có số imei: 358756054954750, bên trong có 01 sim điện thoại.
Các vật chứng trên theo biên bản giao nhận vật chứng số: 21/CTHA ngày 27/3/2017 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Trả lại bị cáo P giấy chứng minh thư nhân dân số: 125577616 do Công an tỉnh Bắc Ninh cấp ngày 13/03/2015.
- Xác nhận bà Nguyễn Thị H là mẹ đẻ của bị cáo P đã nộp 10.000.000 đồng theo biên lai thu số: 0000330 ngày 10/5/2017 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Bị cáo Vũ Đình P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho Vũ Đình P biết, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao. - VKSND tỉnh Bắc Ninh. - Phòng PV27; PC 81 CA tỉnh Bắc Ninh. - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Ninh. - Lưu hs. | TM. H I ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Vũ Công Đồng |