- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Nh giết người - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Nh phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 21/2017/HS - ST Ngày: 22 - 11 - 2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghĩa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Xuân Thí
Bà Trần Thị Ngọc Yến
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Chế Thị Bích Thủy – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2017, tại phòng xét xử án hình sự Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2017/TLST – HS ngày 13 tháng 10 năm 2017, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 343/2017/QĐXXST – HS ngày 08 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:
Trần Văn Nh, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1967 tại huyện T, tỉnh Quảng Bình
Nơi cư trú : Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Đánh cá biển; trình độ học vấn: Lớp 02/10; dân tô ̣c: Kinh; giớ i tinh: Nam; tôn giáo: Không;
́ quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; con ông Trần Văn H (đã chết) và bà Mai Thị C; có vợ Lê Thị L và 01 con; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Sinh ra tại xã V, huyện T (nay là thị xã B), sau đó cùng gia đình chuyển đến sinh sống tại xã Q, huyện T cho đến ngày phạm tội; bị bắt, tạm giam ngày 05/11/2016 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Bình, có mặt theo Lệnh trích xuất để xét xử sơ thẩm.
- Người bào chữa cho bị cáo:
Ông Nguyễn Văn Thởi, Luâ ̣t sư - Cộng tác viên, thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Quảng Bình, bào chữa cho bị cáo Trần Văn Nh, có mặt.
- Người bị hại: Trần Văn Tr, sinh năm 1963
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Quảng Bình (đã chết)
- Ngườ i đại diện hợp pháp của người bị hại:
Bà Trần Thị Đ, sinh năm 1964(bà Đ là vợ người bị hại Trần Văn Tr)
Đi ̣a chi: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.̉
- Ngườ i làm chứng:
Bà Trần Thị Th
Đi ̣a chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt;
Ông Đặng Văn Đ
Đi ̣a chi: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt;̉
Chị Hoàng Thị Đ
Đi ̣a chi: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt;̉
Ông Hoàng S
Đi ̣a chi: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt;̉
Ông Phạm Văn H
Đi ̣a chi: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;̉
Bà Mai Thị V
Đi ̣a chi: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt;̉
Hoàng Xuân Th
Đi ̣a chi: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;̉
Ông Trần V
Đi ̣a chi: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;̉
Bà Trần Thị L
Đi ̣a chi: Thôn V, xã Q, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt;̉
Bà Hoàng Thị B
Đi ̣a chi: Thôn Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt;̉
Ông Lê Đức H
Đi ̣a chi: Thôn Đ, xã C, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.̉
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liê ̣u có trong hồ sơ vu ̣ án và diễn biến ta ̣i phiên toà , nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 04 tháng 11 năm 2016 Trần Văn Nh đi bộ mang theo đồ nhậu và rượu sang nhà anh trai là Trần Văn Tr để cùng uống. Quá trình ngồi uống rượu với nhau Nh nói tới chuyện trước đây anh Tr có bán cho Nh diện tích đất gần nhà với giá 4.000.000 đồng nhưng chưa làm thủ tục sang tên nên hai người cải nhau. Anh Tr nói: “Mi không về tau đập chừ”, rồi đuổi Nh về. Nh đi ra sân đứng, anh Tr vào nhà mình lấy 01 cây sắt phi 14 dài 85 cm đến đánh vào chân trái của Nh 03 cái. Trần Văn Nh đi bộ về nhà, lúc đến sân thì nhặt đá ném qua nhà anh Tr rồi vào nhà của mình lấy 01 cây dao bằng kim loại dài 28 cm (lưỡi dài 16 cm, mũi nhọn) ra đứng ở sân. Anh Trần Văn Tr cầm cây sắt ra đứng sát hàng rào ngăn giữa hai nhà, sau một lúc lời qua tiếng lại Nh cầm dao đi tới sát hàng rào, anh Tr cầm cây sắt ở tay trái giơ lên để đánh, Nh dùng tay trái tỳ vào thành hàng rào, tay phải cầm dao, mũi dao hướng phía trước, vươn người qua hàng rào đâm liên tiếp nhiều cái về phía người anh Tr, trong đó có 01 cái vào hỏm nách bên trái và 01 cái vào hỏm nách bên phải người anh Tr. Sau khi bị đâm anh Tr hai tay ôm ngực, đi thụt lùi, rồi quay người lại, đi loạng choạng rồi ngã gục xuống sân. Trần Văn Nh thấy vậy nên vứt dao sát tường rào, rồi qua đỡ anh Tr. Chị Trần Thị Đ vợ anh Tr từ trong nhà đi ra thấy nên gọi mọi người đến sơ cứu, sau đó đưa anh Tr đi cấp cứu nhưng anh Tr đã chết trên đường đi tới bệnh viện.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 171/TT ngày 14/11/2016 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Quảng Bình kết luận: “Khoang ngực có 3000ml máu cục và máu không đông. Thùy trên phổi trái có vết thương xuyên thủng phổi, kích thước đầu vào 3,5 x 0,5cm bờ mép sắc gọn, tụ máu. Mô phổi, thấy các mạch máu xung huyết và xuất huyết vào lòng các phế nang. Nguyên nhân chết: Do suy hô hấp cấp, suy tuần hoàn cấp (BL 47, 48).
Trần Văn Nh bị thương ở vùng đùi chân trái, tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 15/TgT ngày 30/3/2017 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Quảng Bình kết luận: Viết thương 1/3 giữa trong đùi trái, để lại sẹo 1,5 x 0,5cm liền tốt. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 01%.
Tại bản Cáo trạng số 273/VKS – P2 ngày 11/10/2017 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình đã truy tố Trần Văn Nh về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn Nh thừa nhận do bức xúc về việc anh Trần Văn Tr dùng thanh sắt đánh vào chân nên bị cáo đã về nhà lấy dao có lưỡi dài khoảng 16cm, mủi nhọn trực tiếp đâm nhiều nhát vào phía người anh Tr làm anh Tr bị thương và chết trên đường đi cấp cứu.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Văn Nh thừa nhận bị cáo Nh đã phạm tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự, Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm p, đ khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bà Trần Thị Đ đại diện hợp pháp của người bị hại xác định chính Trần Văn Nh là người dùng dao trực tiếp đâm chồng bà là ông Trần Văn Tr tử vong, bà yêu cầu bị cáo Trần Văn Nh bồi thường các chi phí số tiền 56.450.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Văn Nh về tội “Giết người” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 93, điểm p, đ khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Văn Nh từ 08 đến 09 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2016; buộc bị cáo phải bồi thường cho gia đình người bị hại 56.450.000 đồng, tịch thu tiêu hủy các vật chứng và buộc bị cáo Trần Văn Nh phải chịu án phí hình sự, án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ Á N:
Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án , căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án đa đượ̃
c tranh tu ̣ng ta ̣i phiên toà, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n đi ̣nh như sau:
[1] Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn Nh tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ chứng cứ kết luận vào hồi 18 giờ ngày 04 tháng 11 năm 2016 tại nhà anh Trần Văn Tr ở thôn Đ, xã Q, huyện T, do có mâu thuẫn từ trước và bức xúc việc anh Tr dùng thanh sắt đánh vào mình nên bị cáo Trần Văn Nh đã về nhà mình lấy dao bằng kim loại, mủi nhọn có lưỡi dài 16 cm đâm trực tiếp vào người anh Trần Văn Tr 02 nhát, trong đó có 01 nhát đâm thủng phổi làm anh Tr tử vong trên đường đi cấp cứu.
[2] Việc dùng dao trực tiếp đâm anh Trần Văn Tr tử vong của bị cáo Trần Văn Nh đã phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại Điều 93 Bộ luật hình sự năm 1999. Bị cáo Trần Văn Nh là người có thể chất phát triển bình thường, không bị các bệnh lý về tâm thần, bị cáo nhận thức rõ hành vi dùng dao đâm vào người bị hại sẽ dẫn đến tử vong, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy đã có đủ chứng cứ kết luận bị cáo Trần Văn Nh đã phạm tội “giết người” theo Điều 93 Bộ luật hình sự.
[3] Trong vụ án này người bị hại Trần Văn Tr có lỗi, đã dùng thanh sắt phi 14 dài 85 cm đánh vào chân trái bị cáo Nh gây thương tích cho bị cáo 01% làm bị cáo kích động về thần kinh, vì thế việc điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Trần Văn Nh về tội “Giết người” theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[4] Bị cáo Trần Văn Nh có nhân thân tốt, người bị hại Trần Văn Tr trong vụ án này là anh ruột của bị cáo, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người bị hại gây ra. Vì vậy, cần chấp nhận đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo và đại diện Viện kiểm sát để áp dụng điểm p, đ khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình.
[5] Bị cáo Tr ần Văn Nh đang bi ̣ ta ̣m giam ta ̣i Tra ̣i ta ̣m giam Cô ng an tỉ nh Quảng Bình từ ngày 05/11/2016 cho đến nay, cần tiếp tu ̣c ta ̣m giam bi ̣ cáo để đảm bảo việc giải quyết vụ án.
[6] Việc ban hành các quyết định tố tụng cũng như các hành vi thực hiện thực hiện nhiệm vụ của các Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư bào chữa cho bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Quá trình điều tra thu giữ 01 cây dao dài 28cm, cán dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 16cm, bản rộng 03cm, mũi dao nhọn; 01 que sắt thắng dài 85cm, đường kính loại sắt phi 14 và 05 mẫu máu thu giữ tại hiện trường (BL 53, 72). Tại phiên tòa bị cáo Nh thừa nhận cây dao đã thu giữ trên là vật chứng vụ án, bị cáo đã dùng để đâm người bị hại Trần Văn Tr, con dao đã cũ không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với que sắt, bà Trần Thị Đ thừa nhận của gia đình bà do người bị hại Trần Văn Tr dùng để đánh bị cáo Nh, thanh sắt đã cũ không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy; 05 mẫu máu thu giữ tại hiện trường vụ án cần tiêu hủy.
[8] Bà Trần Thị Đ kê khai các khoản chi phí bồi thường cho gia đình người bị hại là 56.450.000 đồng, tại phiên tòa bị cáo Trần Văn Nh chấp nhận bồi thường toàn bộ số tiền trên, căn cứ khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 591 Bộ luật dân sự 2015 chấp nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo Nh và đại diện gia đình người bị hại.
[9] Bị cáo Trần Văn Nh phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.822.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 93, điển đ, p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 79, Điều 80, Điều 88, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585 và Điều 591 Bộ luật dân sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, khoản 8 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nô ̣p, quản lý, sử du ̣ng án phi và lê ̣ phi Toà án, xử :
́
́
1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn Nh phạm tội “Giết người”.
2. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn Nh 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 11 năm 2016
3. Quyết đi ̣nh tạm giam bị cáo Trần Văn Nh 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/11/2017.
4. Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao dài 28cm, cán dài 12cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 16cm, bản rộng 03cm, mũi dao nhọn; 01 cây sắt thắng dài 85cm, đường kính loại sắt phi 14 và 05 mẫu máu thu giữ tại hiện trường vụ án (hiện đang tạm giữ tại kho Cục thi hành án tỉnh Quảng Bình).
5. Bị cáo Trần Văn Nh phải bồi thường cho gia đình bà Trần Thị Đ 56.450.000 đồng.
Tuyên bố: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bên có nghĩa vụ thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
6. Bị cáo Trần Văn Nh phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.822.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại có mặt tại phiên tòa biết, có kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 22/11/2017.
| Nơi nhận: ̉ - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Quảng Bình ( P2 ); - Văn phòng Điều tra CAQB; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình; - Cơ quan THA hình sự; - Phòng NV & THA Tòa án tỉnh QB; - Trại tạm giam CAQB; - Cục THADS tỉnh QB; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÂM PHÁ N – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Văn Nghĩa |