- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M về việc xin ly hôn với ông Vũ Văn B.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 21/2017/HNGĐ-ST Ngày: 15-5-2017 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Dƣơng Thị Bạn
2. Ông Hồ Tấn Tài
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Phạm Thanh Trang - Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An: Bà Bùi Đức Hằng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 15 tháng 5 năm 2017, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 367/2017/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2017 về việc Ly hôn, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 15/2017/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2017, giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị M, sinh năm 1979; địa chỉ: Số 12/24, khu phố A, phƣờng C, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
2. Bị đơn: Ông Vũ Văn B, sinh năm 1977; địa chỉ: Số 12/24, khu phố A, phƣờng C, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị M và ông Vũ Văn B tự nguyện tìm hiểu, sau đó tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Nam Hà. Theo giấy chứng nhận kết hôn số 26 ngày 26/02/1993. Từ khi kết hôn đến nay vợ chồng sống không hạnh phúc, thƣờng xuyên cãi vã nhau, nguyên nhân là do ông B sống gia trƣởng, độc đoán, thƣờng xuyên chửi vợ, đánh đập vợ, quản lý hết kinh tế, vợ chồng sống chung một nhà, nhƣng không quan hệ sinh lý với nhau từ tháng 5/2015 đến nay. Trƣớc đây bà M đã làm đơn yêu cầu ly hôn, nhƣng sau đó bà M rút đơn để vợ chồng về đoàn tụ, nhƣng kể từ khi Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 53/2017/QĐST-HNGĐ ngày 17/02/2017 đến nay ông B không thay đổi, vẫn giữ nguyên tính nết nhƣ cũ, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc nhau. Nay, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, bà M không còn tình cảm với ông B nên bà M yêu cầu ly hôn với ông B.
Về con chung: Có 03 con chung tên Vũ Văn Q, sinh ngày 21/8/1994, Vũ Thị T, sinh ngày 28/01/1996; Vũ Hải Đ, sinh ngày 21/11/2013. Do cháu Q, cháu T đã trƣởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng cháu Đ hiện nay còn nhỏ, cháu còn đang bú mẹ nên bà M yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông B cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Vũ Văn B trình bày:
Ông B thống nhất lời trình bày của bà M về quan hệ hôn nhân. Riêng về mâu thuẫn vợ chồng bà M cho rằng từ khi kết hôn đến nay vợ chồng sống không hạnh phúc và có mâu thuẫn là không chính xác. Mâu thuẫn vợ chồng chỉ xảy ra từ đầu năm 2014 đến nay, nguyên nhân là do bà M đi đâu, làm gì không hỏi ý kiến của ông, chính vì lẽ đó vợ chồng mới xảy ra cãi vã, bà M còn có những lời nói không tôn trọng chồng nên đôi khi do nóng tính ông đã có những lời nói không hay với vợ và cũng có lúc đánh vợ; vợ chồng sống chung một nhà, nhƣng không quan hệ sinh lý với nhau từ tháng 5/2015 đến nay, nguyên nhân là do bà M không cho. Về kinh tế ông không quản lý nhƣ bà M trình bày mà tiền làm ra là để chi tiêu chung trong gia đình. Do ông vẫn còn thƣơng yêu vợ, mâu thuẫn vợ chồng chƣa đến mức trầm trọng, có thể hàn gắn nên ông không đồng ý ly hôn với bà M.
Về con chung: Có 03 con chung tên Vũ Văn Q, sinh ngày 21/8/1994, Vũ Thị T, sinh ngày 28/01/1996; Vũ Hải Đ, sinh ngày 21/11/2013. Do cháu Q, cháu T đã trƣởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng cháu Đ nếu vợ chồng ly hôn thì ông yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng, ông không yêu cầu bà M cấp dƣỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa ông B đồng ý ly hôn với bà M. Riêng về con chung ông B không đồng ý giao cháu Đ cho bà M.
Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của ngƣời tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã đƣợc Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những ngƣời tham gia tố tụng tại phiên tòa, nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Xét về quan hệ hôn nhân giữa bà Phạm Thị M và ông Vũ Văn B đƣợc xác lập trên cơ sở tự nguyện vào năm 1993, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã T, huyện H, tỉnh Nam Hà vào ngày 26 tháng 02 năm 1993, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 26, là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình tố tụng cũng nhƣ tại phiên toà hôm nay, bà M xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc nên bà yêu cầu đƣợc ly hôn với ông B và đƣợc ông B chấp nhận. Xét việc thuận tình ly hôn của bà M, ông B là tự nguyện nên Hội đồng xét xử công nhận.
Về con chung: Bà M, ông B thống nhất trong thời gian chung sống vợ chồng có 03 con chung tên Vũ Văn Q, sinh ngày 21/8/1994, Vũ Thị T, sinh ngày 28/01/1996; Vũ Hải Đ, sinh ngày 21/11/2013. Do cháu Q, cháu T đã trƣởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Riêng cháu Đ còn nhỏ nên bà M yêu cầu giao con cho bà trực tiếp nuôi dƣỡng và không yêu cầu ông B phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con, nhƣng không đƣợc ông B đồng ý. Xét thấy, hiện nay cháu Đ còn quá nhỏ, chƣa đủ 4 tuổi, lại còn đang bú mẹ nên không thể tách cháu ra khỏi mẹ. Mặt khác, bà M có công ăn việc làm, thu nhập ổn định nên đảm bảo việc nuôi con. Do đó, bà M yêu cầu giao cháu Đ cho bà trực tiếp nuôi dƣỡng là phù hợp nên đƣợc Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về cấp dƣỡng nuôi con bà M không yêu cầu ông B cấp dƣỡng nuôi con. Xét, đây là sự tự nguyện của bà M nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên đƣợc Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị M về việc xin ly hôn với ông Vũ Văn B.
- Công nhận sự thỏa thuận của bà Phạm Thị M và ông Vũ Văn B về việc thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Giao cháu Vũ Hải Đ, sinh ngày 21/11/2013 cho bà Phạm Thị M trực tiếp nuôi dƣỡng, chăm sóc, giáo dục.
- Về cấp dƣỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Phạm Thị M về việc không yêu cầu ông Vũ Văn B phải thực hiện nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.
Ngƣời không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai đƣợc cản trở. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dƣỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Bà Phạm Thị M phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004414 ngày 24/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thị xã Thuận An; - Chi cục THADS thị xã Thuận An; - UBND xã T, huyện H, tỉnh Nam Hà; - Chánh án (để báo cáo); - Các đƣơng sự; - Lƣu HS, AV. | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Bạch Tuyết |