vanban.org

Bản án 20A/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kiều E.

Quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Kiều E được ly hôn với anh Bùi Quang V. Con chung: Giao 02 con chung tên Bùi Quỳnh Hương, sinh 30/10/2015 và Bùi Huy K, sinh ngày 14/4/2019 cho chị Nguyễn Thị Kiều E trực tiếp nuôi, anh Bùi Quang V không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị Kiều E không yêu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "K-V"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kiều E.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI BÈ
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20A/2024/HNGĐ-ST
Ngày 12/01/2024
V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Đặng Thị Thảo Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Trung Thành

Ông Huỳnh Văn Minh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Công Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Võ Liên Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 497/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa 175/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kiều E, sinh năm 1995 (xin vắng mặt).

Địa chỉ: Số A, tổ F, khu vực Q, phường H, quận C, Tp. C.

Bị đơn: Anh Bùi Quang V, sinh năm 1988 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã Đ, huyện C, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 25/7/2023, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kiều E trình bày: Chị và anh Bùi Quang V tiến tới hôn nhân là do quen biết và được sự đồng ý của hai bên gia đình, anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, giấy chứng nhận kết hôn số 128, ngày 08/10/2018, chị và anh V chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau nên đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh V.

Con chung: Anh chị có 02 con chung tên Bùi Huỳnh H, sinh 30/10/2015 và Bùi Huy K, sinh ngày 14/4/2019, sau khi ly hôn chị Kiều E yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 2.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án chị Kiều E yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Bị đơn anh Bùi Quang V đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn, nuôi con của chị Kiều E.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang phát biểu về trình tự, thủ tục tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết và xét xử, quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền và thời hạn xét xử, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Phát biểu về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Kiều E ly hôn với anh V; Con chung: Giao 02 con chung tên Bùi Quỳnh Hương, sinh 30/10/2015 và Bùi Huy K, sinh ngày 14/4/2019 cho chị Kiều E trực tiếp nuôi, anh V phải không cấp dưỡng nuôi con do chị Kiều E không yêu cầu; Tài sản chung và nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Kiều E có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn và nuôi con, nên đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn có hộ khẩu thường trú tại huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh V đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn, nuôi con. Chị Kiều E cũng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt chị Kiều E, anh V theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Chị Kiều E và anh V xác lập quan hệ hôn nhân năm 2018, trên cơ sở tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang, giấy chứng nhận kết hôn số 128, ngày 08/10/2018 nên là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân chị Kiều E yêu cầu ly hôn là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi nhau nên đã sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án chị Kiều E cương quyết ly hôn, vì giữa anh chị không còn tình cảm, hôn nhân không hạnh phúc, còn anh V đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của chị Kiều E, điều này chứng tỏ anh V cũng không muốn hàn gắn mối quan hệ vợ chồng, anh chị không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, do đó yêu cầu ly hôn của chị Kiều E là có cơ sở chấp nhận.

Con chung: Anh chị có 02 con chung tên Bùi Quỳnh Hương, sinh 30/10/2015 và Bùi Huy K, sinh ngày 14/4/2019, sau khi ly hôn chị Kiều E yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 2.000.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án chị Kiều E không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, sau khi vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2022 thì chị Kiều E là người trực tiếp chăm sóc hai con chung ổn định cho đến nay. Mặc khác, tại tờ cam kết thì cháu Quỳnh Hương có nguyện vọng muốn được ở với mẹ, còn cháu Huy Khánh thì vẫn còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ nhiều hơn. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án anh V cũng không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của chị Kiều E, do đó Hội đồng xét xử giao hai con chung cho chị Kiều E trực tiếp nuôi là đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của hai cháu. Anh V không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị Kiều E không yêu cầu.

Tài sản chung và nợ chung: Chị Kiều E trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Chị Kiều E phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quyền kháng cáo: Chị Kiều E và anh V được quyền kháng cáo theo qui định tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự,

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Kiều E.

1. Quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Kiều E được ly hôn với anh Bùi Quang V.

2. Con chung: Giao 02 con chung tên Bùi Quỳnh Hương, sinh 30/10/2015 và Bùi Huy K, sinh ngày 14/4/2019 cho chị Nguyễn Thị Kiều E trực tiếp nuôi, anh Bùi Quang V không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị Kiều E không yêu cầu.

Anh Bùi Quang V có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.

3. Án phí: Chị Nguyễn Thị Kiều E phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012862 ngày 03 tháng 10 năm 2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Như vậy, chị Nguyễn Thị Kiều E đã thi hành xong phần án phí.

4. Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự, thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ