- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Kim T - Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Kim T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN LONG ĐIỀN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU Bản án số: 20A/2023/HSST. Ngày 28/02/2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN- TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Nghĩa.
- Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Công Danh
2. Bà Nguyễn Thị Di
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thiên Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Long Điền, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 03/2023/TLST-HS ngày 03/01/2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐXXST-HS ngày 14/02/2023, đối với bị cáo:
Nguyễn Kim T, Sinh năm 09/6/2004 tại Bà Rịa Vũng Tàu ; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tấp P, xã T, huyện Đ, Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch Việt Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Trình độ học vấn: Lớp 8/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Là con ông Nguyễn Văn Đ và bà Kim Thị L;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 14/9/2022 đến nay (Đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh BRVT), có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
Bà Phạm Thị Kim T1, sinh năm 2000; Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn L, huyện Đ, Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1975. (Có mặt);
Địa chỉ: Tấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Ông Nguyễn Hồng Đ1, sinh năm 1979. (Vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ 14, ấp V, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1995. (Vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ 18, ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
- 1 -
- Ông Phạm Thái T3, sinh năm 1990. (Vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ 6, ấp T, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Quốc D, sinh năm 1998. (Vắng mặt);
Địa chỉ: ấp P, xã T, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 13/9/2022, Nguyễn Kim T đi đến chơi tại nhà ông Phạm Thái T3. Do đang cần tiền tiêu xài và trả nợ, nên bị cáo T nảy sinh ý định đi chiếm đoạt tài sản của người khác. Để thực hiện ý định trên, khi đang chơi tại nhà của ông T, bị cáo T hỏi mượn chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại xe Vision, màu đỏ, biển số 72K1 – 595.46 để đi công việc.
Sau đó, bị cáo T điều khiển xe mô tô trên đi từ nhà ông T3 ra đến đoạn đường Tỉnh lộ 44A thuộc khu phố H, thị trấn H, bị cáo T phát hiện bà Phạm Thị Thanh T1 đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Piago, biển số 72 C1 – 762.14 đi theo hướng từ chợ Long Hải đến xã P. Lúc này, bị cáo T quan sát thấy túi quần bên phải của bà T1 có cái điện thoại di động được để một nửa bên trong và một nửa bên ngoài túi quần nên bị cáo T điều khiển xe mô tô áp sát xe phía bên phải bà T1 và nhanh chóng dùng tay trái giật lấy cái điện thoại di động trên rồi tăng ga bỏ chạy.
Bị cáo T điều khiển xe mô tô ra gần cầu Cửa Lấp thuộc xã Phước Tỉnh vứt áo khoác và đôi dép để tránh sự phát hiện của Cơ quan Công an. Bị cáo T điều khiển xe mô tô đến trước cổng trường Tiểu học Phước Tỉnh lấy điện thoại di động nêu trên ra kiểm tra và phát hiện phía sau ốp lưng của chiếc điện thoại có số tiền 1.500.000 đồng.
Sau đó, bị cáo T bỏ ốp lưng ở gần cổng trường và điều khiển xe mô tô đi đến tiệm điện thoại Hải Nam (tại ấp Phước Bình, xã Phước Tỉnh), do ông Nguyễn Quốc D làm chủ để mở khóa Icloud. Sau khi mở khóa xong, bị cáo T điều khiển xe mô tô đến tiệm điện thoại Tài Đ1 (thuộc ấp V, xã P) do ông Nguyễn Hồng Đ1 làm chủ để cầm chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được với số tiền 13.000.000 đồng và trả số tiền 2.600.000 đồng để chuộc lại chiếc điện thoại di động Iphone 8 mà bị cáo T đã cầm trước đó. Sau đó, bị cáo T điều khiển xe mô tô về nhà của ông T3 trả xe và nhờ ông T3 chở về nhà, bị cáo T chuyển khoản trả tiền cho ông T3 với số tiền là 2.000.000 đồng, trả nợ cho ông Nguyễn Văn T2 với số tiền 8.400.000 đồng và chuyển khoản trả nợ cho bà Y (chưa rõ nhân thân lai lịch) với số tiền 2.500.000 đồng.
Đến ngày 14/9/2022, Cơ quan Công an làm việc với bị cáo Nguyễn Kim T và bị cáo T đã khai nhận T bộ hành vi như đã nêu.
Tại bản Kết luận định giá số 52/KL-HĐĐGTS ngày 22/9/2022 của Hội đồng định giá tài sản huyện Long Điền kết luận chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, dung lượng 128Gb (đã qua sử dụng) có giá trị là 19.000.000 đồng.
- 2 -
Tại cáo trạng 10/CT-VKS ngày 03/01/2023 của VKSND huyện Long Điền truy tố bị cáo Nguyễn Kim T về tội: “Cướp giật tài sản” theo các điểm d khoản 2 điều 171 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Long Điền vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51, điều 38 của BLHS để xử phạt bị cáo T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù;
Bị cáo T thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của VKSND huyện Long Điền đã truy tố đối với bị cáo và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Kim T thừa nhận hành vi chiếm đoạt tài sản như bản cáo trạng của VKSND huyện Long Điền đã truy tố đối với bị cáo, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các chứng cứ thu thập được qua quá trình điều tra, cho thấy:
Vào khoảng 16 giờ 30 phút ngày 13/9/2022, trên đoạn đường Tỉnh lộ 44A thuộc khu phố H, thị trấn H, bị cáo Nguyễn Kim T đã có hành vi điều khiển xe mô tô 72-K1 595.46 áp sát xe mô tô do bà Phạm Thị Thanh T1 đang điều khiển xe mô tô đi cùng chiều, bị cáo T dùng tay trái giật lấy 01 cái điện thoại di động Iphone 12 Promax của bà T1 đang để trong túi quần bên phải của bà T1. Sau khi giật tài sản, bị cáo T nhanh chóng tẩu thoát, trị giá tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 20.500.000 đồng (Gồm điện thoại trị giá 19.000.000 đồng và số tiền 1.500.000 đồng để trong ốp lưng điện thoại).
Xét thấy: Bị cáo T dùng xe mô tô để thực hiện hành vi cướp giật là đã dùng thủ đoạn nguy hiểm. Do đó bị cáo phạm tội Cướp giật tài sản và bị xử phạt theo điểm d khoản 2 điều 171 của bộ luật hình sự.
Hành động phạm tội của bị cáo Nguyễn Kim T xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, tác động xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo chiếm đoạt tài sản của bà T1 với mục đích là để có tiền tiêu xài và thanh toán nợ. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất của hành vi phạm tội, hậu quả đã xảy ra và quá trình lượng hình có xem xét nhân thân của bị cáo. Nên xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, qua vụ án này, xét thấy:
Bị cáo T phạm tội lần đầu, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã đề nghị gia đình bồi thường thiệt hại và người bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên cân nhắc các tình tiết nêu trên để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên áp dụng điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo T dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 điều 171 bộ luật hình sự.
Về vật chứng:
01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh, dung lượng 128Gb (đã qua sử dụng) do ông Nguyễn Hồng Đ1 giao nộp. Ngày 25/10/2022, cơ
- 3 -
quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) công an huyện Long Điền đã giao trả điện thoại này cho bà Phạm Thị Thanh T1.
01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Vision, màu đỏ, biển số 72K1 – 595.46 do bà Phạm Thị N nhờ bà Phạm Thị N1 (là em ruột) đứng tên làm chủ sở hữu, sau đó bà N cho ông Phạm Thái T3 sử dụng làm phương tiện đi lại. Vào ngày 13/9/2022, ông T3 cho bị cáo T mượn đi công việc, ông T3 không biết T sử dụng vào mục đích phạm tội nên ngày 30/11/2022, cơ quan CSĐT đã giao trả chiếc xe nói trên cho ông T3.
Vào ngày 19/9/2022, ông Nguyễn Văn Đ (là cha ruột của bị cáo Nguyễn Kim T) đã nộp số tiền 14.500.000 đồng để khắc phục hậu quả số tiền mà T đã chiếm đoạt được, bao gồm: Số tiền 13.000.000 đồng là tiền mà ông Nguyễn Hồng Đ1 giao cho bị cáo T và số tiền 1.500.000 đồng của bà Phạm Thị Thanh T1 để trong ốp lưng điện thoại. Vào ngày 28/10/2022, cơ quan CSĐT Công an huyện Long Điền đã giao số tiền 13.000.000 đồng cho ông Đ1 và giao số tiền 1.500.000 đồng cho bà T1.
Đối với chiếc điện thoại di động Iphone 8, màu đen và số tiền 200.000 đồng là tài sản cá nhân của Nguyễn Kim T. Ngày 15/12/2022, cơ quan CSĐT Công an huyện Long Điền đã trao trả lại cho cha của bị cáo là ông Nguyễn Văn Đ (Sau khi đã thực hiện xong các khoản bồi thường).
Như vậy các vật chứng đã được cơ quan cảnh sát điều tra xử lý xong.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, bà Phạm Thị Thanh T1, ông Phạm Thái T3 và ông Nguyễn Hồng Đ1 không có yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại thêm, nên Hội đồng xét xử không xét đến.
Về hành vi, Quyết định tố tụng của điều tra viên, Cơ quan CSĐT Công an huyện Long Điền, kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, điều tra viên, kiểm sát viên và cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Kim T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
2. Áp dụng điểm d khoản 02 điều 171 Bộ luật hình sự, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51, điều 38, điều 54 bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Kim T 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù T3 từ ngày 14/09/2022.
3. Về án phí:
Bị cáo Nguyễn Kim T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
- 4 -
* Nơi nhận:
| -TAND Tỉnh BRVT; - VKSND Tỉnh BRVT; - Sở tư pháp Tỉnh BRVT - Công an tỉnh BRVT(PV06,PC10); - VKSND H. Long Điền; - Công an H. Long Điền; - Chi cục THA-DS H. Long Điền; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ vụ án. - 5 - | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Hữu Nghĩa. |