- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 2095 /2022/HNGĐ-ST Ngày: 13-6-2022 V/v: Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Quang Chính
2. Bà Đinh Thị Thảo
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Thu, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố T - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên tòa: Bà Trần Võ Hồng Duyên - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 1488/2021/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2021 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3041/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/5/2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1978 ( có mặt)
Địa chỉ: 145/20/9A, khu phố 2, phường P, thành phố T.
Bị đơn: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1970 ( vắng mặt)
Địa chỉ: 145/20/9A, khu phố 2, phường P, thành phố T.
NHẬN THẤY:
Trong đơn xin ly hôn ngày 01/11/2021 và lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà và ông Trần Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T theo Giấy chứng nhận kết hôn số 63 ngày 17/5/2001. Cuộc sống chung hạnh phúc bình thường đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do đôi bên bất đồng quan điềm, lối sống, ông Đ thường xuyên chửi bới xúc phạm và gây áp lực cho bà. Bà xác định không còn tình cảm với ông Đ, không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc với nhau được nữa nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Đ. Về con chung: Bà và ông Đ có hai người con chung Trần Tuyết N, sinh năm 2003 và Trần Tiến D, sinh ngày 12/5/2005. Bà yêu cầu được nuôi dưỡng người con Tiến D, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết Nợ chung: Không có. Bị đơn là ông Trần Văn Đ có lời khai: Ông và bà Nguyễn Thị T chung sống và có đăng ký kết hôn năm 2001. Cuộc sống chung giữa đôi bên có những bất đồng quan điểm chưa tìm được tiếng nói chung, hạn chế chia sẻ trong cuộc sống gia đình. Mâu thuẫn kèo dài mà chưa giải quyết, hàn gắn được. Ông nhận thấy đôi bên vẫn còn tiếp tục sống chung được, ông sẽ sửa chữa tốt hơn. Ông không đồng ý ly hôn, nhờ tòa án hòa giải giúp vợ chồng ông. Về con chung: Ông xác nhận vợ chồng có hai người con chung như bà T trình bày. Trường hợp ly hôn, ông đồng ý giao người con Tiến D cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ông cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết Nợ chung: Không có Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng ông Trần Văn Đ vắng mặt, không đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải. Tại phiên tòa: Bà T vẫn giữ yêu cầu ly hôn ông Trần Văn Đ; yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng người con chung Trần Tiến D, không yêu cầu ông Đcấp dưỡng nuôi con; không yêu cầu giải quyết tài sản chung; xác định không có nợ chung. Ông Trần Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa. Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật, tuân theo nội quy phiên tòa. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T. Bà T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn Đ đã được Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 63 ngày 17/5/2001. Bà T yêu cầu ly hôn với lý do cuộc sống chung giữa hai vợ chồng không hạnh phúc, có nhiều mâu thuẫn và ông Đ cư trú tại phường P, thành phố T. Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố T theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
.Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Trần Văn Đ dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Đtheo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về yêu cầu của đương sự:
Theo lời khai của bà T và ông Đ thì vợ chồng bà tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2001. Cuộc sống chung có nhiều mâu thuẫn giữa vợ chồng do bất đồng quan điểm, thiếu sự chia sẻ trong gia đình, ông Đ có lời lẽ xúc phạm, gây áp lực về tinh thần đối với bà T. Bà T xác định không còn tình cảm, không thể tiếp tục cuộc sống chung hạnh phúc nên yêu cầu ly hôn ông Đ. Ông Đ không đồng ý ly hôn, đề nghị tòa án hòa giải giúp vợ chồng đoàn tụ.
Ngày 24/3/2022 và ngày 20/4/2022 Tòa án mở phiên hòa giải nhưng ông Đ không đến tòa mà không có lý do. Điều đó chứng tỏ ông Đ chưa thực sự mong muốn cũng như chưa có phương án giải quyết mâu thuẫn giữa đôi bên để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 qui định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình…Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau…”
Xét quá trình sống chung giữa đôi bên thực tế có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không còn tình cảm, không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau là vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc bà T yêu cầu được chấm dứt quan hệ hôn nhân với ông Đlà có cơ sở giải quyết.
Về con chung:
Xét người con chung Trần Tuyết N, sinh năm 2003 đã trưởng thành nên có quyền chọn ở với cha hay mẹ tùy ý.
Tại tờ trình bày nguyện vọng ngày 24/3/2022, người con Trần Tiến D có nguyện vọng được ở với mẹ. Xét nguyện vọng của người con Tiến D là hoàn toàn tự nguyện, Hội đồng xét xử giao người con chung Tiến D cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Xét bà Thanh không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi người con Tiến D là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này. [3.4] Về tài sản chung: Bà T và ông Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. [3.5] Về nợ chung: Bà T và ông Đkhai không có nợ chung. [4] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Nguyễn Thị T phải nộp nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0024655 ngày 12/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 và điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 1 Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T được ly hôn ông Trần Văn Đ.
Giấy chứng nhận kết hôn số 63 ngày 17/5/2001 do Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T cấp cho bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn Đ không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Giao người con chung Trần Tiến D, sinh ngày 12/5/2005 cho bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận việc bà Nguyễn Thị T không yêu cầu ông Trần Văn Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì quyền lợi mọi mặt của người con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con, hoặc hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con của người không trực tiếp nuôi con. Người con Trần Tuyết N, sinh năm 2003 đã trưởng thành.
- Về tài sản chung: Đôi bên tự thỏa thuận giải quyết.
- Về nợ chung: Không có. 2. Về án phí: 300.000 đồng bà Nguyễn Thị T phải nộp nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0024655 ngày 12/11/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP. Hồ Chí Minh; - VKSND thành phố T; - Chi cục THADS tp. T; -UBND phường P, thành phố T; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa ( đã ký) Nguyễn Thị Phƣơng Thảo |