vanban.org

Bản án 209

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Phi Hùng - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Baûn aùn soá: 209/2021/HS-ST
Ngaøy 15 - 4 - 2021

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN THÀNH PHỐ B - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Thìn.

Ông Trần Văn Chánh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tuyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Điểu Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 181/2021/TLST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2021/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên bị cáo: Nguyễn Phi H, sinh năm 1990 tại tỉnh Đồng Nai (có mặt); nơi cư trú: Tổ 9, ấp 9/4, xã Hưng Lộc, huyện Th, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang Việt, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị Thu Hạnh, sinh năm 1968; có vợ Ngô Thị Thu Hi, sinh năm 1995 và 02 con sinh năm 2017 và sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không.

Bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 16/12/2020 đến ngày 25/12/2020 tại nhà tạm giữ Công an thành phố B, sau đó được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra cho đến nay.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Ngô Thị Thu Hi, sinh năm: 1995 (có mặt).

Nơi cư trú: Tổ 9, ấp 9/4, xã Hưng Lộc, huyện Th, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 15/12/2020, thông qua mạng xã hội Facebook, Nguyễn Phi H đặt mua của một người có nickname “A Pháo”, tên thường gọi là Siêu (không rõ họ, địa chỉ) 10 (mười) hộp pháo nổ loại 49 ống/hộp, gồm 01 (một) hộp pháo nổ có ký hiệu KS4 – 4910, 03 (ba) hộp pháo nổ ký hiệu A8426 và 06 (sáu) hộp pháo nổ có ký hiệu KK0049 do nước ngoài sản xuất có tổng trọng lượng 18,2 (mười tám phẩy hai) kilogam với giá 880.000 đồng/hộp (tám trăm tám mươi nghìn đồng), nhằm mục đích bán lại để kiếm lợi nhuận. Đến khoảng 17 giờ ngày 16/12/2020, H điều khiển xe mô tô biển số 60B7 – 332.77 đến khu vực chân cầu vượt khu du lịch Suối Tiên, thuộc phường Tân Phú, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh để gặp đối tượng tên Siêu lấy 10 (mười) hộp pháo nổ đã đặt mua trước đó mang về nhà cất giấu để tìm người bán lại với giá từ 1.200.000 đồng/hộp (Một triệu hai trăm nghìn đồng) đến 1.300.000 đồng/hộp (Một triệu ba trăm nghìn đồng). Đến khoảng 19 giờ ngày 16/12/2020, khi H đang điều khiển xe mô tô chở toàn bộ số pháo trên đến khu vực công viên Long Bình thuộc khu phố 1, phường Bình Đa, thành phố B thì H bị lực lượng tuần tra của đội cảnh sát kinh tế Công an thành phố B phát hiện nên phối hợp cùng Công an phường Bình Đa lập hồ sơ bắt người phạm tội quả tang và chuyển Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B giải quyết theo thẩm quyền

Vật chứng vụ án:

+ 10 (mười) hộp pháo nổ loại 49 ống/hộp gồm 01 (một) hộp pháo nổ có ký hiệu KS4 – 4910, 03 (ba) hộp pháo nổ ký hiệu A8426 và 06 (sáu) hộp pháo nổ có ký hiệu KK0049 (đã được niêm phong có biên bản niêm phong kèm theo).

+ 01 (một) xe mô tô biển số 60B7 – 332.77, nhãn hiệu SH mode, màu xanh – đen là tài sản riêng của chị Ngô Thị Thu Hi (là vợ của H, tài sản có trước thời kì hôn nhân), chị Hiền không biết H sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hoà đã trả lại cho chị Hiền.

+ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu vàng trắng là tài sản cá nhân của Nguyễn Phi H, không liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho H.

+ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Xsmax, màu vàng là tài sản của H đã sử dụng để trao đổi mua bán pháo nổ.

Tại Bản kết luận giám định số: 6487/C09B ngày 18/12/2020 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: 01 (một) khối hình hộp chữ nhật kích thước (16,5 cm x 16,5cm x 10 cm), bao bì nhiều màu sắc có ghi ký hiệu KS4 – 4910, bên trong có chứa 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10 cm, đường kính 2,3 cm; 03 (ba) khối hình hộp chữ nhật kích thước (16,5 cm x 16,5cm x 10 cm), bao bì nhiều màu sắc có ghi ký hiệu A8426, bên trong có chứa 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10 cm, đường kính 2,3 cm; 06 (sáu) khối hình hộp chữ nhật kích thước (17 cm x 17 cm x 10 cm), bao bì nhiều màu sắc có ghi ký hiệu KK0049 (CS996), bên trong có chứa 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10 cm, đường kính 2,3cm. Tất cả mẫu vật gửi giám định đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ. Bên trong có chứa thành phần thuốc pháo. Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 18,2 kg.

Bản cáo trạng số: 210/CT-VKSBH ngày 23/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố bị cáo Nguyễn Phi H về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 190; điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Ñieàu 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Phi H từ 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) đến 250.000.000đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ 10 (mười) hộp pháo nổ gồm 01 (một) hộp pháo nổ có ký hiệu KS4 – 4910, 03 (ba) hộp pháo nổ ký hiệu A8426 và 06 (sáu) hộp pháo nổ có ký hiệu KK0049, bên trong mỗi hộp còn 48 ống/hộp (là mẫu vật còn lại sau khi giám định).

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Xsmax, màu vàng là tài sản của H đã sử dụng vào việc phạm tội.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, các chứng cứ khác có tại hồ sơ và cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố. Từ đó đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 16/12/2020, tại khu vực công viên Long Bình thuộc khu phố 1, phường Bình Đa, thành phố B, bị cáo Nguyễn Phi H bị phát hiện có hành vi buôn bán hàng cấm là 10 (mười) hộp pháo nổ loại 49 ống/hộp gồm 01 (một) hộp pháo nổ có ký hiệu KS4 – 4910, 03 (ba) hộp pháo nổ ký hiệu A8426 và 06 (sáu) hộp pháo nổ có ký hiệu KK0049 do nước ngoài sản xuất có tổng trọng lượng 18,2 (mười tám phẩy hai) kilogam.

Tại Bản kết luận giám định số: 6487/C09B ngày 18/12/2020 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận: 01 (một) khối hình hộp chữ nhật kích thước (16,5 cm x 16,5cm x 10 cm), bao bì nhiều màu sắc có ghi ký hiệu KS4 – 4910, bên trong có chứa 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10 cm, đường kính 2,3 cm; 03 (ba) khối hình hộp chữ nhật kích thước (16,5 cm x 16,5cm x 10 cm), bao bì nhiều màu sắc có ghi ký hiệu A8426, bên trong có chứa 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10 cm, đường kính 2,3 cm; 06 (sáu) khối hình hộp chữ nhật kích thước (17 cm x 17 cm x 10 cm), bao bì nhiều màu sắc có ghi ký hiệu KK0049 (CS996), bên trong có chứa 49 ống giấy hình trụ tròn dài 10 cm, đường kính 2,3cm. Tất cả mẫu vật gửi giám định đều là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ. Bên trong có chứa thành phần thuốc pháo. Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Tổng khối lượng là 18,2 kg.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế. Nên cần phải có một mức án nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội có thành tích xuất sắc trong công tác, nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, bị cáo có 02 con nhỏ sinh năm 2017 và sinh năm 2018 quy định tại điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nên áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo cũng có tác dụng giáo dục và phòng ngừa thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 10 (mười) hộp pháo nổ gồm 01 (một) hộp pháo nổ có ký hiệu KS4 – 4910, 03 (ba) hộp pháo nổ có ký hiệu A8426 và 06 (sáu) hộp pháo nổ có ký hiệu KK0049, bên trong mỗi hộp còn 48 ống/hộp.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone Xsmax, màu vàng số Imel 354092046017992 là tài sản của bị cáo Nguyễn Phi H đã sử dụng vào việc phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đồng Nai).

Đối với xe mô tô biển số 60B7 – 332.77, nhãn hiệu SH mode, màu xanh – đen là tài sản riêng của bà Ngô Thị Thu Hi (vợ của bị cáo Nguyễn Phi H, tài sản có trước thời kì hôn nhân), bà Hiền không biết bị cáo H sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bà Ngô Thị Thu Hi theo đúng quy định pháp luật.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Phi H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYEÁT ÑÒNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phi H phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Áp dụng khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 35; điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Phi H 150.000.000đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 10 (mười) hộp pháo nổ gồm 01 (một) hộp pháo nổ có ký hiệu KS4 – 4910, 03 (ba) hộp pháo nổ có ký hiệu A8426 và 06 (sáu) hộp pháo nổ có ký hiệu KK0049, bên trong mỗi hộp còn 48 ống/hộp.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone Xsmax, màu vàng số Imel 354092046017992 là tài sản của bị cáo Nguyễn Phi H đã sử dụng vào việc phạm tội.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đồng Nai).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Phi H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ